Thứ Ba, 23/04/2019 - 14:08
1
1
17/09/2018 21:30

GS. TS Nguyễn Đức Ninh: Trọn vẹn tình yêu với văn hoá, văn học Đông Nam Á

Thiên Kim Không chỉ là một người thầy giáo tận tâm, ông còn là một nhà nghiên cứu khoa học tâm huyết với nghề nghiệp. Với suy nghĩ, đào tạo và nghiên cứu khoa học là hai hoạt động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau, bởi vậy trong suốt khoảng thời gian hơn 40 năm gắn bó, tìm hiểu về văn hóa, văn học của các nước trong khu vực Đông Nam Á, ông đã không ngừng miệt mài nghiên cứu và làm việc quên giờ giấc để có được những kết quả đầy ý nghĩa, đóng góp tích cực cho sự phát triển của nền khoa học và sự nghiệp giáo dục của nước nhà. Ông là GS.TS Nguyễn Đức Ninh - nguyên Trưởng phòng nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.
Chặng đường dài nỗ lực và phấn đấu
GS Nguyễn Đức Ninh sinh ngày 14 tháng 4 năm 1954 ở một vùng quê nghèo thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, ông vốn là người yêu thích văn học và đam mê với các môn khoa học xã hội, nên từ rất sớm ông đã bộc lộ được năng khiếu của bản thân. Những năm học phổ thông ông là một trong những học sinh tiêu biểu được chọn vào đội tuyển của tỉnh đi thi học sinh giỏi văn toàn miền Bắc và có lẽ đấy cũng chính cơ duyên, là cái nôi đưa ông đến với sự nghiệp sau này.
Nhớ lại những năm tháng ấy, ông cho biết không quân Mỹ đánh phá miền Bắc ác liệt, với tình yêu dành cho đất nước, dân tộc, ai ai cũng muốn cầm súng ra chiến trường để giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc. Dù chỉ là một đứa trẻ, nhưng ông luôn mang trong mình mơ ước được ra mặt trận chiến đấu, được sáng tác về những người lính, về cuộc chiến anh hùng của nhân dân ta. Ấy thế nhưng, tựa như một duyên phận cuộc đời, kết thúc cấp III ông được nhà nước gửi ra nước ngoài học tập tại Trường Đại học tổng hợp Quốc gia Lomonoxop ở Nga ( Liên Xô cũ) , chuyên về tiếng và văn học Indonesia thuộc tổ bộ môn ngôn ngữ và văn học Đông Nam Á.
Vốn là người ham học, trong những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường ông luôn nỗ lực học tập, quyết tâm theo gương của những người thầy. Dưới sự dìu dắt của các nhà khoa học, giáo sư đã tạo cho ông niềm đam mê, say sưa học tập, nghiên cứu, ước mơ trở thành nhà khoa học chân chính. Luôn kiên trì và cố gắng vượt qua mọi khó khăn, không quản ngại ngày hay thức đêm để nghiên cứu tri thức, sau 5 năm rèn rũa như một chú ong chăm chỉ cuối khóa học luận văn tốt nghiệp của ông được đánh giá xuất sắc và được Hội đồng chấm tốt nghiệp đề nghị ở lại tiếp tục làm nghiên cứu sinh (ông là người Việt Nam duy nhất khóa đó được đề nghị thi chuyển tiếp sinh ).
Năm 1973, kết thúc quá trình học tập, ông trở về nước cũng là lúc Viện nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam thành lập và ông nhận công tác tại đó. Ông đã chính thức mang tri thức tích lũy được để bắt đầu hành trình nghiên cứu khoa học. Tại thời điểm đó Nghiên cứu về khu vực Đông Nam Á là một bộ môn rất mới ở Việt nam. Đông Nam Á học nằm trong Đông Phương học là một khoa học nghiên cứu tổng hợp, song tính tổng hợp đó dựa trên một trình độ chuyên môn hóa sâu theo từng chuyên ngành: lịch sử, kinh tế, ngôn ngữ, văn học, tôn giáo, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần...v..v... Khoa học về Đông Nam Á – Phương Đông chính thức ra đời năm 1973 ở Việt Nam, cho đến nay mới chỉ có trên 40 năm bề dày nghiên cứu. Trong khi đó Đông phương học Thế giới đã trải qua 4 thế kỷ (từ thế kỷ 17). Vì thế ông và mọi người phải “điểm lại” phải nghiên cứu lịch sử ngành Khoa học Đông Nam Á - Phương Đông trên thế giới để một mặt kế thừa họ, mặt khác triển khai nghiên cứu những vấn đề, những địa hạt mới xuất phát từ nhu cầu thực tế khoa học của Việt Nam. Cho nên nhận thức của các nhà nghiên cứu, của cơ quan nghiên cứu về khu vực Đông Nam Á đều rất quan trọng để triển khai hệ thống vấn đề nghiên cứu. Việc nhận thức, nhận diện khu vực Đông Nam Á thể hiện rõ ràng quan điểm khoa học của chúng ta trước đối tượng, thể hiện rõ phương pháp luận nghiên cứu, tinh thần và tư tưởng học thuật của chúng ta. Bản thân cá nhân ông cũng như các đồng nghiệp luôn hướng tới nhìn nhận Đông Nam Á như một khu vực lịch sử văn hóa riêng, bên cạnh hai nền văn minh lớn là Ấn Độ và Trung Quốc. Không những thế, hiện tại, Đông Nam Á còn là một liên kết khu vực trong tổ chức ASEAN, nhằm biến Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển. Trên cả hai bình diện: quá trình hình thành phát triển với những mối quan hệ, tác động tương hỗ nội sinh của một khu vực văn hóa Đông Nam Á và một liên kết hòa đồng của
ASEAN đương đại là những đòi hỏi, là những vấn đề khoa học đặt ra đối với các nhà khoa học của Việt Nam. Bản thân ông cũng như giới khoa học Việt Nam nghiên cứu đối tượng của mình trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy nhất lịch sử. Cá nhân ông cũng như các đồng nghiệp luôn tìm tòi các dẫn liệu để có thể cố gắng xác lập vị trí và đóng góp của văn học, văn hóa Đông Nam Á trong văn học, văn hóa thế giới. Khác với quan điểm của các học giả phương Tây về Đông Nam Á - Phương Đông, bằng những cơ sở khoa học và những công trình nghiên cứu của mình, ông luôn khẳng định những đóng góp của các dân tộc “nhược tiểu” vào kho tàng văn học, văn hóa chung của loài người.
Người đầu tiên của ngành văn học Việt Nam đi sâu nghiên cứu văn học Đông Nam Á
Xuất phát từ niềm yêu văn học, văn hóa, bởi vậy ông luôn đi sâu vào nghiên cứu về văn học, văn hóa Đông Nam Á sâu hơn cả là ngữ văn Indonesia. Nhớ lại những năm tháng khi mới bước chân vào con đường nghiên cứu, ông cho biết khi ấy Viện vừa thành lập, trước mắt ông là muôn vàn khó khăn, thiếu thốn. Thiếu tất cả, những điều kiện cần và đủ để làm khoa học...thiếu rất nhiều tài liệu, tư liệu để làm tham khảo, thiếu kinh nghiệm, thiếu truyền thống nghiên cứu chuyên ngành này ở Việt Nam, điều kiện sống, điều kiện kinh tế ở Việt Nam những năm 70 - 80 của thế kỷ trước vô cùng khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tối thiểu của mỗi người. Tuy vậy với sự kiên trì và niềm say mê khoa học, những khó khăn thiếu thốn về tài liệu dần dần được khắc phục bằng sự bền bỉ vào các thư viện để tìm tòi và đọc các tài liệu có liên quan đến văn học, văn hóa các nước Đông Nam Á. Hàng ngày ông vẫn miệt mài đi thư viện tìm nguồn tài liệu, đọc và xử lý các tài liệu bằng các thứ tiếng nước ngoài, đồng thời cộng tác với các bộ phận thông tin tư liệu, dịch các tài liệu chuyên ngành ra tiếng Việt. Trong vòng gần 10 năm tìm tòi, khai thác, thu thập tư liệu văn học Đông Nam Á bằng nhiều con đường và phương pháp tiếp cận khác nhau, ông cùng đồng nghiệp đã công bố dần các kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học và các sách xuất bản ở Trung Ương. Cũng như trong thời gian này, ông đã bảo vệ thành công luận ấn Tiên sĩ của mình với đề tài: “Tiểu thuyết Indonesia nửa đầu thể kỷ XX”. Sau đó, công trình này được xuất bản thành sách chuyên khảo (1983).
Theo thời gian Văn học Đông Nam Á dần trở thành một bộ môn trong khoa nghiên cứu văn học của cả nước. Nghiên cứu Văn học Việt Nam đã và đang được đặt trong khung cảnh của văn học của khu vực Đông Nam Á với tất cả các mối quan hệ giữa chúng với nhau. Mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn học Đông Nam Á (kể cả văn học thế giới) là mối quan hệ biện chứng, cái này bổ sung và làm sáng tỏ cái kia trong một chỉnh thể. Do đó việc nghiên cứu và giảng dạy song song, phối hợp văn học Việt Nam và văn học Đông Nam Á trở thành vấn đề của phương pháp luận, phương pháp tiếp cận khoa học văn học của chúng ta. Với nhận thức như vậy, mấy chục năm qua, nghiên cứu văn học Đông Nam Á đã có vị trí và chỗ đứng của mình trên “văn đàn”của cả nước và kết quả nghiên cứu của ông được công bố qua các bài báo khoa học, các sách chuyên đề, các tuyển tập bài viết văn học Đông Nam Á đã xuất bản. Ông là một trong số những người đầu tiên của ngành văn học Việt Nam đi sâu nghiên cứu văn học Đông Nam Á và đã có những đóng góp nhất định trong việc tìm tòi, phát hiện văn học khu vực này. Dựa trên các kết quả nghiên cứu của cá nhân và của các đồng nghiệp, ông đã tham gia giảng dạy, đào tạo ở các Trường Đại học ở Hà Nội, tiến hành biên soạn các giáo trình văn học khu vực Đông Nam Á cho các Trường Đại học để đào tạo chuyên gia cho đất nước cách chính qui, có hệ thống.
Vào những năm 80 của thế kỷ trước, sau mười năm nghiên cứu ông đã công bố bài viết có tính chất “cứu đời” về nền văn học Indonesia trong sách “Văn học các nước Đông Nam Á” (1983). Với số lượng trên dưới 50 trang in, công trình trên đã dựng được bộ mật lịch sử văn học của một quốc gia cụ thể. Qua công trình này bức tranh toàn cảnh của một nền văn học dân tộc mới được thể hiện rõ các đường nét, các màu sắc, hình vẽ. Để bổ sung cho nghiên cứu văn học, để hiểu đúng văn học, ông đã tham gia biên soạn cuốn sách “Tìm hiểu văn hóa Indonesia”(1987), “Tìm hiểu văn hóa Lào”, “Diện mạo văn học cận hiện đại Lào” (2007)”. Bên cạnh những bài viết khái quát về văn học sử của Indonesia, của Lào, của Thái Lan, của Malaixia, của Philipin đã viết nghiên cứu theo các chuyên đề đăng trên tạp chí văn học.
Chuyên đề tiểu thuyết hiện đại Indonesia được công bố trên tạp chí văn học năm 1982, 1984 và chuyên khảo “Tiểu thuyết hiện đại Indonesia công bố trên tạp chí văn học năm 1982, 1984, chuyên khảo “Tiểu thuyết Indonesia nửa đầu thế kỷ XX” (1983) đã nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của tiểu thuyết hiện đại trong bốn thập kỷ nêu bật được quy luật phát triển của tiểu thuyết Indonesia trên các phương diện chủ đề, nội dung đặc điểm nghệ thuật của thể loại. Việc nghiên cứu chuyên đề tiểu thuyết, cũng như bài viết “Truyện ngắn ở các nước Đông Nam Á” (1983) là kết quả nghiên cứu sâu hơn văn học hiện đại Đông Nam Á của ông.
Không những thế, ông và mọi người tìm ra qui luật phát sinh, phát triển văn học toàn khu vực và những đặc điểm riêng giữa các nền văn học trong khu vực. Các bài công bố như “Thử bàn về một số nét văn học Đông Nam Á trong những đặc điểm văn hóa ở Đông Nam Á” trên tạp chí văn học số 4/1997 và công trình “nghiên cứu văn học Đông Nam Á” xuất bản năm 2004, tập hợp các bài đăng trên các tạp chí trong vòng hai mươi năm. Trên các kết quả nghiên cứu khoa học ở Viện và thực tế giảng dạy ở các trường đại học, ông đã tham gia và chủ trì biên soạn giáo trình: “Văn học khu vực Đông Nam Á” (tái bản lần thứ 2 năm 2000) cho ĐHQGH, hoặc tham gia phần lớn nội dung của giáo trình “Văn học Đông Nam Á” (tái bản 1998 của ĐHSP Hà Nội.
Những quan điểm nghiên cứu văn học Đông Nam Á cũng như những phương pháp tiếp cận văn học nêu trên được triển khai trên thực tế giảng dạy và hướng dẫn các luận án, luận văn khoa học, đặc biệt những nghiên cứu sinh đã và đang được ông hướng dẫn 12 luận án Tiến sĩ) và các học viên cao học mà ông hướng dẫn đều được thao tác theo một qui trình khoa học vừa có kiến thức sâu về chuyên ngành, vừa vận dụng được các phương pháp nghiên cứu của ngành, của chuyên ngành vào việc khai thác tư liệu, xử lý tư liệu để hình thành các luận điểm khoa học trong luận án của mình,
Ngoài những đóng góp nêu trên, các công trình khoa học của ông đã đóng góp thiết thực về nhận thức khoa học về một khu vực lịch sử Văn hóa Đông Nam Á đối với giới nghiên cứu khoa học của Việt Nam; mặt khác còn đóng góp cả tư tưởng và nhận thức, chính sách thực thi để xây dựng cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN và văn hóa - xã hội là một trong 3 cột chính xây dựng cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN hoàn thành năm 2015 (công trình do ông chủ biên “Xây dựng cộng đồng ASEAN xuất bản 2013). Các nghiên cứu về Đông Nam Á trên các lĩnh vực là những tài liệu trên cơ sở đó giúp cho các cơ quan chức năng hoạch định các chính sách đối ngoại, chính sách văn hóa, giáo dục của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Một chặng đường thật dài đã đi qua với biết bao thử thách, khó khăn nhưng luôn rực cháy trong ông là tình yêu nghề tha thiết. Nhiều giai đoạn tưởng như không thể sống nổi với nghề nghiên cứu, phải làm thêm rất nhiều nghề để kiếm sống nhưng rồi cuối cùng ông vẫn không thể bỏ được “duyên nghiệp” của cuộc đời. Âu cũng bởi vì niềm đam mê với các nghiên cứu, với những thế hệ tương lai của đất nước.
Ý kiến bạn đọc
Click Here To Refresh
Cơ quan chủ quản: Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam
Tạp chí Điện tử Công nghiệp môi trường
Tổng Biên tập: Nguyễn Duy Thái
Giấy phép Báo Điện tử số: 27/GP-BTTTT cấp 23/01/2019 của Bộ Trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông 
Tòa soạn: Bộ Công Thương, số 655 Phạm Văn Đồng, Hà Nội.
Điện thoại: 02432009454 * Email: vietbai@gmail.com