Thứ Ba, 23/04/2019 - 14:08
1
1
17/09/2018 19:07

Ngành Tài nguyên môi trường với Tám nhiệm vụ cần tập trung sâu trong năm 2018

Bước vào năm 2017, mặc dù tình hình trong nước và quốc tế còn nhiều khó khăn, thách thức, tác động không nhỏ đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự quyết tâm cao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, toàn quân, toàn dân, cộng đồng doanh nghiệp, chúng ta đã đạt được những kết quả rất tích cực trong thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017.
Những đóng góp quan trọng của ngành Tài nguyên môi trường, Bộ Tài nguyên Môi trường.
Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TNMT ) là Bộ quản lý nhà nước về những nguồn lực đặc biệt quan trọng của quốc gia như đất đai, tài nguyên,… phải đảm bảo khai thác có hiệu quả nhưng cũng phải đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.
Trong năm qua, trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng tập thể lãnh đạo, cán bộ quản lý, công chức, viên chức, người lao động của ngành Tài nguyên Môi trương đã nỗ lực phấn đấu và hoàn thành tốt nhiều nhiệm vụ được giao.
Đã làm tốt công tác tham mưu, giúp Chính phủ chỉ đạo thực hiện việc tổng kết, đánh giá, sửa đổi và hoàn thiện các chủ trương, chính sách, pháp luật về tài nguyên và môi trường, đặc biệt là hai lĩnh vực đất đai, tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đã ban hành; trình Chính phủ ban hành một số cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ ngay những vướng mắc, bất cập, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân và doanh nghiệp cho quá trình đầu tư, sản xuất kinh doanh. Đã có những bước tiến lớn trong cải cách thủ tục hành chính.
Công tác quản lý tài nguyên và môi trường đã có những chuyển biến khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Quản lý đất đai ngày càng đi vào nền nếp, được quan tâm và có hiệu quả hơn. Vấn đề lãng phí đất đai được giải quyết tốt. Kiểm soát, phòng ngừa các sự cố, điểm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được tập trung chỉ đạo. Đã tập trung chỉ đạo tất cả các dự án từ việc đánh giá tác động môi trường, đánh giá môi trường chiến lược cho đến kiểm soát quá trình đầu tư xây dựng, quá trình vận hành thử nghiệm đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường.
Công tác quy hoạch, điều tra cơ bản, đánh giá tiềm năng, trữ lượng tài nguyên được đẩy mạnh; chất lượng công tác dự báo khí tượng thủy văn ngày càng được cải thiện, góp phần quan trọng trong ứng phó với những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu, của thiên tai gây ra.
Đã tham mưu trình Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP, đề ra tổng thể các nhiệm vụ, giải pháp có tính chiến lược, lâu dài đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long để có thể phát triển bền vững trong bối cảnh thích ứng với biến đổi khí hậu. Lần đầu tiên Chính phủ có một Hội nghị rộng lớn gồm nhiều Bộ, Ban ngành các cấp, địa phương, nhiều chuyên gia, nhà khoa học, các tổ chức quốc tế tham gia để tham mưu ban hành Nghị quyết quan trọng về phát triển đồng bằng sông Cửu Long bền vững trước những thách thức lớn của biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
Bộ TNMT cũng đã tích cực vận động tài trợ quốc tế, tăng thêm nguồn lực hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ cho ngành. Nhiều dự án biến đổi khí hậu, kết hợp phòng chống thiên tai được triển khai và tranh thủ được sự hợp tác, hỗ trợ của nhiều đối tác quốc tế.
Công tác tiếp công dân, giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân được quan tâm thực hiện, góp phần quan trọng giải quyết bức xúc của người dân, ổn định xã hội, tạo môi trường cho phát triển bền vững.
Vẫn còn những khó khăn, thách thức
Công tác Quản lý đất đai còn nhiều bất cập. Đây là lĩnh vực dễ gây thất thoát, lãng phí, thậm chí tham nhũng; lĩnh vực có nhiều bức xúc cần được tập trung giải quyết trong thời gian tới.
Tình trạng khai thác tài nguyên khoáng sản, ở một số nơi chưa được kiểm soát chặt chẽ, gây lãng phí, thất thoát tài nguyên và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Tình trạng khai thác cát sỏi trái phép vẫn diễn mà không thể chủ quan, cần tập trung kiểm soát.
Tình hình ô nhiễm môi trường ở một số khu, cụm công nghiệp, ở các làng nghề, các đô thị và cả nông thôn có nơi còn rất nghiêm trọng. Chúng ta chưa có giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề này trong khi nguồn lực đầu tư cho xử lý ô nhiễm môi trường còn rất hạn hẹp.
Công tác ứng phó với biến đổi khí hậu đã được tập trung thực hiện, song việc lồng ghép các chương trình, đề án ứng phó biến đổi khí hậu với các chương trình, đề án của các lĩnh vực khác còn thiếu hiệu quả.
Việc xây dựng các cơ sở dữ liệu của ngành còn chậm. Tình trạng cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước xảy ra ở nhiều nơi. Tài nguyên biển chưa được điều tra, đánh giá, khai thác sử dụng hiệu quả và đóng góp tương xứng cho phát triển KT-XH của đất nước.
Ở một số địa phương, năng lực thực thi chính sách, pháp luật còn hạn chế, buông lỏng quản lý để xảy ra tình trạng vi phạm pháp luật nhất là trong quản lý đất đai, khoáng sản, môi trường...
Những yêu cầu cấp bách
Năm 2018 là năm bản lề, có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thời kỳ 2016 - 2020 theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII đề ra.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 12 tiếp tục khẳng định Việt Nam phải sớm trở thành một nước cơ bản là công nghiệp theo hướng hiện đại.
Đồng thời, do quy mô nền kinh tế của ta còn nhỏ, nên để tránh nguy cơ tụt hậu, yêu cầu đặt ra là phải phát triển nền kinh tế nhanh, nhưng phải bền vững.
Vì vậy, chúng ta phải đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế bằng cách tăng đầu tư, khai thác các tiềm năng, lợi thế, khai thác các nguồn lực tài nguyên và môi trường; nhưng đồng thời phải giải quyết được tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển, giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội; giữ được sự cân bằng trong mối quan hệ giữa ba trụ cột chính là phát triển kinh tế, phát triển văn hóa - xã hội và bảo vệ môi trường.
Để thực hiện được những mục tiêu trên, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII đã yêu cầu phải thực hiện 3 nhiệm vụ đột phá chiến lược, cùng với đó phải tái cấu trúc lại nền kinh tế gắn với lựa chọn, đổi mới mô hình tăng trưởng hợp lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là các nguồn lực tài nguyên, đất đai, gắn với bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Trên cơ sở đó, Ngành Tài nguyên và Môi trường cần thực hiện tốt các yêu cầu sau: (i) Trước hết phải tập trung quản lý có hiệu quả tài nguyên đất đai, chống lãng phí, thất thoát, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, từ lập quy hoạch, kế hoạch đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai. (ii) Quản lý chặt chẽ quá trình tài nguyên khoáng sản, vừa chống thất thoát, lãng phí, vừa đảm bảo môi trường trong quá trình khai thác, vận chuyển, chế biến. (iii) Kiểm soát chặt chẽ việc xả thải ra môi trường, cả chất thải rắn, nước thải, khí thải... không để xảy ra sự cố môi trường. (iv) Kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm. Khắc phục có hiệu quả ô nhiễm môi trường do chiến tranh để lại. (v) Quản lý chặt chẽ, đi đôi với khai thác hiệu quả và bảo vệ tài nguyên nước. (vi) Có các giải pháp khai thác hiệu quả tiềm năng, tài nguyên biển. (vii) Có các giải pháp ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. (viii) Nâng cao chất lượng công tác dự báo, cảnh báo thiên tai, giúp cho công tác ứng phó với thiên tai, giảm thiểu thiệt hại về tính mạng, tài sản của người dân.
Để thực hiện được những yêu cầu nêu trên, Ngành Tài nguyên môi trường, trong đó đặc biệt là Bộ TNMT phải tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những hạn chế để hoàn thành nhiệm vụ năm 2018 và các năm tiếp theo.
Tám nhiệm vụ trọng tâm
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách trong lĩnh vực quản lý nhà nước về TNMT để phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển. Đây là nhiệm vụ số một, bởi từ hoàn thiện thể chế sẽ giúp tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi.
Tập trung rà soát, sửa đổi, trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án Luật đất đai, Luật bảo vệ môi trường; Luật khoáng sản, Luật tài nguyên nước, Luật khí tượng thuỷ văn, Luật đa dạng sinh học, Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
 
 
Hai là, Xây dựng, hoàn thiện các văn bản dưới luật về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực, trách nhiệm của cán bộ quản lý, công chức, viên chức thay vì quản lý, phải có trách nhiệm, có tâm huyết, chuyên môn để phục vụ, hướng dẫn cho người dân và doanh nghiệp.
Hai là, rà soát, cập nhật, điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, các lĩnh vực tài nguyên và môi trường.
Rà soát lại tất cả các quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực TNMT để điều chỉnh, bổ sung, xây dựng mới cho phù hợp với thực tiễn phát triển, đặc biệt là các Quy hoạch quản lý, khai thác tài nguyên (đất, nước, khoáng sản, biển)..
Từ các quy hoạch đó, xây dựng kế hoạch thực hiện, trong đó chỉ rõ nguồn lực và thứ tự ưu tiên triển khai thực hiện, tránh tình trạng quy hoạch treo (như quy hoạch khai thác Titan, một số loại khoáng sản khác).
Ba là, tạo đột phá trong quản lý, sử dụng tài nguyên đất
Quản lý chặt chẽ đất đai từ quy hoạch, kế hoạch, chuyển đổi mục đích sử dụng, sử dụng đất hợp lý. Tiến hành kiểm soát bằng thanh tra, kiểm tra thường xuyên, không để xảy ra trường hợp vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai.
Tiếp tục tập trung nghiên cứu, đề xuất cơ chế khuyến khích việc tập trung, tích tụ ruộng đất để sản xuất, kinh doanh tập trung quy mô lớn, nông nghiệp công nghệ cao.
Tập trung nguồn lực để hiện đại hóa hồ sơ địa chính; xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, hệ thống thông tin đất đai, từng bước hiện đại hóa dịch vụ công về đất đai theo hướng Chính phủ điện tử.
Tập trung chỉ đạo để hoàn thành việc đo đạc, lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cho thuê đất đối với đất có nguồn gốc của các nông, lâm trường quốc doanh.
Bốn là, có các giải pháp trước mắt và lâu dài đảm bảo an ninh nguồn nước.
An ninh nguồn bước đang là vấn đề hết sức cấp bách đối với Việt Nam. Mặc dù được tự nhiên ưu đãi nguồn nước mặt, nước ngầm khá phong phú, nhưng Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất do gia tăng về ô nhiễm nguồn nước, do tác động của biến đổi khí hậu gây nhiễm mặn nguồn nước, do ảnh hưởng của việc khai thác các nguồn nước ở thượng nguồn của các dòng sông.
Cần đẩy mạnh hơn nữa công tác điều tra, đánh giá đầy đủ tài nguyên nước, nâng cao ý thức của cộng đồng trong khai thác và sử dụng tiết kiệm, bảo vệ tài nguyên nước;
Thực hiện hiệu quả Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Tiếp tục rà soát, sửa đổi các quy chế vận hành hồ chứa và liên hồ chứa đảm bảo vừa sử dụng tiết kiệm nước, vừa điều tiết cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân, an toàn cho các công trình.
Bộ TNMT chủ động tham mưu, đề xuất với Chính phủ để đàm phán thiết lập cơ chế chia sẻ nguồn nước liên quốc gia.
Năm là, tăng cường quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản theo quy hoạch và kế hoạch, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm, đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh - quốc phòng, bảo vệ môi trường.
Rà soát, điều chỉnh các quy hoạch khoáng sản để quản lý, khai thác có hiệu quả, phục vụ tốt nhất yêu cầu phát triển kinh tế xã hội (loại khoáng sản, khu vực dự trữ, khu vực khai thác trước mắt và lâu dài,....đặc biệt là titan, vật liệu xây dựng,...)
Các địa phương cần chú trọng tổ chức thực hiện tốt việc tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền sử dụng số liệu, thông tin về kết quả điều tra, thăm dò khoáng sản của Nhà nước;
Xây dựng cơ chế đấu giá quyền khai thác khoáng sản nhằm tạo ra cơ chế minh bạch, lợi ích tối đa và điều tiết hợp lý trong hoạt động khai thác khoáng sản, qua đó tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Tăng cường hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động khai thác khoáng sản; đặc biệt là công tác hậu kiểm; kiểm soát có hiệu quả sản lượng khai thác; hạn chế và đi đến chấm dứt tình trạng khai thác khoáng sản trái phép.
Sáu là, thực hiện tốt công tác kiểm soát, bảo vệ môi trường.
Tổng điều tra, rà soát, phân loại, kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm nhất là các nguồn thải ra sông, ra biển; cải tạo, phục hồi các khu vực ô nhiễm; chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học.
Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường; tăng cường kiểm soát, ngăn ngừa các dự án, cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao; triển khai mạnh các nhiệm vụ bảo vệ môi trường lưu vực sông, bảo vệ môi trường các khu kinh tế, khu công nghiệp, làng nghề;
Cần tiếp tục nâng cao chất lượng công tác đánh giá tác động môi trường, đánh giá môi trường chiến lược từ hình thức, sang thực chất, muốn vậy cần có sự đầu tư phù hợp về con người, công nghệ, thiết bị; công tác thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường; tăng cường đầu tư cho các hoạt động bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả nguồn chi ngân sách sự nghiệp bảo vệ môi trường.
Phải đưa ra được các công nghệ xử lý chất thải, nước thải, khí thải phù hợp với trình độ, thu nhập, điều kiện tự nhiên, xã hội… của Việt Nam.
Bảy là, tăng cường hơn nữa chất lượng công tác dự báo khí tượng, thủy văn, cảnh báo thiên tai. Đây là đòi hỏi thường xuyên, ngày càng cao.
Diễn biến các đợt thiên tai, bão lũ vừa qua cho thấy, dưới tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, đòi hỏi ngành khí tượng thủy văn phải cố gắng hơn nữa để phục vụ yêu cầu ngày càng cao của xã hội, góp phần bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.
Cần chỉ đạo tốt việc triển khai thực hiện đồng bộ và hiệu quả Chiến lược phát triển ngành khí tượng thủy văn đến năm 2020, Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia giai đoạn 2016 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
Tám là, huy động nguồn lực quốc tế, nguồn lực xã hội triển khai có hiệu quả Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh 2016 - 2020, đặc biệt xây dựng lộ trình hành động cụ thể đối với Kế hoạch triển khai thỏa thuận Paris về khí hậu tại Việt Nam, làm cơ sở để triển khai thực hiện các hoạt động.
Có kế hoạch triển khai hiệu quả Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu và nghiên cứu các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu ở khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và các vùng chịu ảnh hưởng mạnh của biến đổi khí hậu.
Bộ TNMT phải là trung tâm để phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng kế hoạch hành động cụ thể nhằm triển khai có hiệu quả triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.
Phát huy tốt vai trò cơ quan thường trực của Ủy ban quốc gia về biến đổi khí hậu, tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ những quyết sách lớn liên quan đến các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu ở nước ta.
Ban Biên tập tổng hợp
Ý kiến bạn đọc
Click Here To Refresh
Cơ quan chủ quản: Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam
Tạp chí Điện tử Công nghiệp môi trường
Tổng Biên tập: Nguyễn Duy Thái
Giấy phép Báo Điện tử số: 27/GP-BTTTT cấp 23/01/2019 của Bộ Trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông 
Tòa soạn: Bộ Công Thương, số 655 Phạm Văn Đồng, Hà Nội.
Điện thoại: 02432009454 * Email: vietbai@gmail.com