Thứ Ba, 23/04/2019 - 14:08
1
1
19/09/2018 19:00

Phát triển ngành Công nghiệp môi trường thành một ngành kinh tế quan trọng

(CNMT) - Phát triển ngành Công nghiệp môi trường là một nội dung quan trọng trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đó là quan điểm của Thủ tướng Chính phủ trong Quyết định 192/QĐ-TTg ngày 13 tháng năm 2017 phê duyệt Đề án phát triển nghành Công nghiệp môi trường Việt Nam đến năm 2025. Để giúp bạn đọc có góc nhìn tổng thể hơn về ngành Công nghiệp môi trường Việt Nam, Tạp chí Công nghiệp môi trường có cuộc trao đổi với Tiến sỹ Đỗ Hữu Hào - Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam để cùng trao đổi và phân tích một số vấn đề liên quan.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông đã nhận lời tham gia buổi trao đổi ngày hôm nay. Thưa ông, ngành Công nghiệp môi trường (CNMT) ở Việt Nam ngày càng phát triển theo xu thế tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vậy CNMT được hiểu như thế nào là đúng nhất?
Tiến sỹ Đỗ Hữu Hào: Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển ngành CNMT. Về mặt danh nghĩa, ngành CNMT tại Việt Nam chưa chính thức hình thành nhưng thực ra, ở nước ta, đặc biệt tại các thành phố lớn, từ rất sớm là đã có các công ty môi trường đô thị (URENCO). Đó là các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ chuyên thu gom, vận chuyển xử lý chất thải và vệ sinh đô thị. Cho đến nay hệ thống các công ty này đã phát triển ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước. Theo kết quả điều tra khảo sát của Tổng cục Môi trường, đến thời điểm cuối năm 2012, tại 53 tỉnh/thành phố trên cả nước, có 3.982 doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ môi trường. Trong đó, ngoài các công ty môi trường đô thị của các tỉnh, thành phố, còn có các doanh nghiệp tư nhân. Các lĩnh vực hoạt động ngày càng đa dạng và không ngừng được mở rộng, không chỉ bó hẹp trong phạm vi môi trường đô thị, mà còn phát triển sang khu vực doanh nghiệp, khu công nghiệp, kiểm   soát   ô nhiễm, tái chế và quản lý tài nguyên, sản xuất thiết bị, công nghệ. Như vậy, phần nào cũng thấy được bức tranh sơ bộ về các hoạt động CNMT của Việt Nam đang dần trở nên chuyên môn hóa, mang tính công nghiệp trên tất cả 3 lĩnh vực dịch vụ, sản xuất thiết bị công nghệ và quản lý sử dụng bền vững tài nguyên. Đối với  các chuyên  gia và các nhà khoa học môi trường, khái niệm "công nghiệp môi trường" không phải  là quá mới mẻ, điều này dễ hiểu bởi lẽ họ là những người đầu tiên tiếp cận đến vấn đề này thông qua nghiên cứu, tham gia thảo luận tại các hội nghị chuyên ngành quốc tế. Tuy nhiên, để khái niệm CNMT được xã hội, các doanh nghiệp và người  dân tiếp nhận và vận dụng linh hoạt trong thực tế là một chặng đường dài. Thậm chí phải bắt đầu từ việc giải thích và trả lời những vấn đề liên quan đến khái niệm, chẳng hạn thế nào là CNMT? CNMT sẽ sản xuất ra cái gì? Tại sao phải hình thành và phát triển CNMT? CNMT giống và khác các ngành công nghiệp đã có ra sao? Trong tương lai, ngành CNMT sẽ phát triển và có vai trò gì trong xã hội?
Phóng viên: Với thực tiễn ông vừa nêu, nghành CNMT liệu có gặp khó khăn trong quá trình hoạt động, thưa ông?
Tiến sỹ Đỗ Hữu Hào: Thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế và an sinh xã hội, đời sống của nhân dân liên tục được cải thiện. Tuy nhiên, bên cạnh các thành tựu đạt được, Việt Nam cũng đang đối mặt với nhiều vấn đề bức xúc, đặc biệt là sự xuống cấp của chất lượng môi trường. Ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên đang diễn ra gay gắt với mức độ phức tạp ngày càng gia tăng, làm thiệt hại lớn về kinh tế và gây ra nhiều hệ quả nghiêm trọng khác. Trong bối cảnh đó, nhu cầu về phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm, xử lý chất thải và cải thiện môi trường ngày càng cao, đây có thể coi là cơ hội và động lực để thúc đẩy ngành CNMT trong nước phát triển. Tuy vậy, chúng ta có thể thấy rõ những khó khăn mà doanh nghiệp CNMT trong nước đang phải đối mặt đó là: (1) Quy mô hoạt động của doanh nghiệp CNMT thường ở mức vừa và nhỏ, không có khả năng đầu tư vào các lĩnh vực đòi hòi nguồn vốn lớn, hạn chế về khả năng tiếp cận với các nguồn vốn ưu đãi, khoa học công nghệ tiên tiến, thông tin và khả năng tiếp cận thị trường so với doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt là công nghệ; (2) Chất lượng cung ứng dịch vụ của một số doanh nghiệp CNMT chưa cao, chưa đầy đủ, tư vấn chưa sát với thực tiễn; (3) Chưa có quy định rõ ràng về điều kiện cấp phép hành nghề cung cấp dịch vụ môi trường (DVMT) dẫn tới doanhnghiệp được thành lập tràn lan theo kiểu “toàn dân làm DVMT” thiếu đầu tư về mặt chuyên môn nghiệp vụ, dẫn đến hoạt động kém hiệu quả; (4) Thiếu cơ chế khuyến khích, tạo thị trường cho các doanh nghiệp CNMT hoạt động; (5) Chưa quy định mức phí chi trả DVMT hợp lý, một số lĩnh vực nhà nước vẫn phải hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động, tạo ra sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp có vốn nhà nước và doanh nghiệp tư nhân; (6) Công tác xã hội hoá khu vực DVMT còn hạn chế do chưa co kế hoạch, lộ trình và quy định cụ thể cho việc xã hộihoá nên chưa thu hút được nhiều do- anh nghiệp tham gia vào lĩnh vực cung ứngDVMT.
Phóng viên: Vậy Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam đã làm gì để hỗ trợ các hội viên, doanh nghiệp CNMT thưa ông?
Tiến sỹ Đỗ Hữu Hào: Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam (Hiệp hội) là tổ chức xã hội - nghề nghiệp, chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Công Thương. Mục đích của Hiệp hội là tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vì mục đích lợi nhuận nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; tạo điều kiện cho các hội viên hợp tác, hỗ trợ nhau hoạt động góp phần phát triển công nghiệp môi trường Việt Nam; xử lý, kiểm soát ô nhiễmmôi trường, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường phát triển bền vững của đất nước. Hiệp hội đã tổ chức nhiều diễn đàn, đối thoại giữa các hội viên với cơ quan nhà nước, với các tổ chức hữu quan khác trong và ngoài nước để trao đổi thông tin và ý kiến về các vấn đề liên quan đến các hội viên và môi trường kinh doanh theo quy định của pháp luật; Hỗ trợ hội viên phát triển quan hệ kinhdoanhvàđầutưtrongvàngoài nước thông qua các biện pháp như giới thiệu bạn hàng, cung cấp thông tin, tư vấn, tổ chức nghiên cứu, khảo sát thị trường, hội thảo, hội nghị, hội chợ, triển lãm, quảng cáo và các hoạt động xúc tiếnkhác; Tiến hành các hoạt động nhằm thu hút hỗ trợ quốc tế thông qua các chương trình, dự án kêu gọi đầu tư, thúc đẩy liên doanh, liên kết giữa Hiệp hội, hội viên với các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp nước ngoài; Giúp hội viên trong việc thực thi nghiêm chỉnh và đầy đủ các quy định về sở hữu trí tuệ, trong việc bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp; Quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ các tổ chức hoạt động trong ngành công nghiệp môi trường chưa phải là hội viên Hiệp hội; Hỗ trợ hội viên trong việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao có hiệu quả các công nghệ mới, sản phẩm mới tạo ra ở trong nước, kinh nghiệm quản lý; xúc tiến thương mại; nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm; Đào tạo, nâng cao năng lực bằng các hình thức thích hợp để phát triển nguồn nhân lực cho các tổ chức.
Phóng viên: Vậy ông có đề xuất gì để phát triển ngành CNMT trong nước?
Tiến sỹ Đỗ Hữu Hào: Trong Quyết định192/QĐ-TTg ngày 13 tháng 2 năm 2017 phê duyệt Đề án phát triển nghành Công nghiệp môi trường Việt Nam đến năm 2025, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu cho từng hoạt động phục vụ CNMT. Theo đó, phải tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật, tổ chức về CNMT; phát triển công nghệ bảo vệ môi trường, sử dụng bền vững tài nguyên và phục hồi môi trường; Phát triển sản xuất, chế tạo, cung cấp các thiết bị, phương tiện, dụng cụ, sản phẩm bảo vệ môi trường; Phát triển DVMT; Phát triển thị trường và thu hút đầu tư phát triển ngành CNMT; Đào tạo nhân lực, nâng cao nhận thức, năng lực phát triển ngànhCNMT.Từ khía cạnh Hiệp hội, tôi đề xuất nhưsau:
1. Nhóm giải pháp về quy hoạch, phát triển mạng lưới doanh nghiệp môi trường: Xây dựng quy hoạch phát triển doanh nghiệp dịch vụ môi trường đến năm 2020 của từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cơ sở đánh giá, dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụ môi trường trên địa bàn, khả năng đáp ứng dịch vụ của doanh nghiệp ngoài địa bàn; Nghiên cứu, xây dựng Đề án khuyến khích các doanh nghiệp, nhà máy xi măng đang hoạt động tham gia đồng xử lý chất thải nguy hại ở Việt Nam nhằm xử lý có hiệu quả chất thải phát sinh của từng vùng; Xây dựng và nhân rộng mô hình doanh nghiệp quản lý, vận hành các trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung từ các đô thị, khu dân cư; Hỗ trợ xây dựng năng lực cung cấp dịch vụ ứng phó sự cố tràn dầu từ các doanh nghiệp thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí nhằm sử dụng tối đa trang thiết bị hiệncó.
2. Nhóm giải pháp về các Chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho các do- anh nghiệp dịch vụ môi trường như: Chương trình hỗ trợ chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp dịch vụ môi trường; Chương trình xây dựng cơ sở dữ liệu và website cung cấp thông tin về dịch vụ môi trường; Chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp dịch vụ môi trường; Chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp dịch vụ môi trường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường; Chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư cung cấp dịch vụ môi trường tại các vùng khó khăn, đặc biệt khókhăn.
3. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật của các doanh nghiệp dịch vụ môi trường nhằm phát hiện kịp thời các doanh nghiệp vi phạm, cung cấp dịch vụ kém chất lượng; kiên quyết đình chỉ đối với các doanh nghiệp thực hiện dịch vụ môi trường mà không có chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.
4. Đăng tải thông tin công khai các doanh nghiệp dịch vụ môi trường có chất lượng dịch vụ tốt cũng như các doanh nghiệp mà chất lượng dịch vụ chưa bảođảm.
5. Tăng cường đào tạo, hỗ trợ các doanh nghiệp dịch vụ môi trường nâng cao năng lực lập dự án đầu tư, phương án kinh do- anh nhằm đáp ứng yêu cầu của tổ chức tín dụng khi thẩm định hồ sơ vay vốn của các doanh  nghiệp.
6. Nghiên cứu, rà soát sửa đổi Nghị định số 04/2009/ NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2009 về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường, Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường và các văn bản khác có liên quan nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn hỗ trợ, ưu đãi, chính sách khuyến khích của Nhà nước khi tham gia cung cấp các dịch vụ môitrường.
7. Ban hành các quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính nhằm khuyến khích doanh nghiệp sử dụng trang thiết bị hiện có tham giacungcấpdịchvụmôitrường.
8. Hoàn thiện hệ thống định mức, đơn giá cho các lĩnh vực dịch vụ môi trường tạo điều kiện thuận lợi, bình đẳng giữa các doanh nghiệp với các tổ chức khác tham gia cung cấp dịch vụ môi trường, đây được xem là giải pháp thị trường quan trọng nhất để thúc đẩy phát triển ngành DVMT nói riêng và lĩnh vực công nghiệp môi trường nói chung; các quy định về đấu thầu trong lĩnh vực dịch vụ môitrường.
9. Ban hành cơ chế khuyến khích hỗ trợ vay vốn, bảo lãnh tín dụng từ các tổ chức tín dụng; nghiên cứu, sửa đổi quy chế hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, Quỹ Bảo vệ môi trường của các địa phương theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp dịch vụ môi trường tiếp cận dễ dàng với các nguồn vốn vay, trong đó áp dụng cơ chế thế chấp bằng tài sản hình thành   từ vốn vay; thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng tại các tỉnh, thành phố nhằm bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp dịch vụ môi trường vay vốn tại các Ngân hàng thương mại theo quy định hiện hành.
10. Rà soát, ban hành các quy định pháp luật về điều kiện hoạt động của các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ môi trường; về xử lý vi phạm đối với các doanh nghiệp hoạt động cung cấp dịch vụ môitrường.
Phóng viên. Vâng, xin trân trọng cảm ơn ông.
Mặc dù ngành CNMT ở Việt Nam chưa chính thức hình thành nhưng đã và đang có những đóng góp tích cực không chỉ cho bảo vệ môi trường mà còn hứa hẹn nhiều tiềm năng để phát triển thành một ngành kinh tế với các doanh nghiệp và sản phẩm đặc thù. Định hướng phát triển phát triển ngành CNMT phải phù hợp điều kiện thực tế của Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới nhằm đáp ứng các yêu cầu thực tế đặt ra từ quá trình phát triển kinh tế - xã hội, góp phần phát triển bền vững đất nước. Sự phát triển này cần được thực hiện từng bước, chắc chắn để đạt được mục tiêu phát triển ngành CNMT thành một ngành kinh tế quan trọng.
Nguyễn Hoàng
 
Ý kiến bạn đọc
Click Here To Refresh
Cơ quan chủ quản: Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam
Tạp chí Điện tử Công nghiệp môi trường
Tổng Biên tập: Nguyễn Duy Thái
Giấy phép Báo Điện tử số: 27/GP-BTTTT cấp 23/01/2019 của Bộ Trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông 
Tòa soạn: Bộ Công Thương, số 655 Phạm Văn Đồng, Hà Nội.
Điện thoại: 02432009454 * Email: vietbai@gmail.com