Thứ Ba, 23/04/2019 - 14:08
1
1
14/09/2018 19:09

Thị trường công nghệ môi trường khu vực ASEAN và thực tiễn tại Philippine

Các thành viên của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đang theo đuổi sáng kiến hội nhập khu vực một cách toàn diện với mục đích giảm bớt mọi rào cản để tạo ra dòng chảy tự do hàng hoá, dịch vụ và đối xử quốc gia đối với các nhà đầu tư nước ngoài vào năm 2020. Sáng kiến này đang song hành với sự phát triển trong hoạt động môi trường và điều chỉnh một cách nghiêm ngặt xuyên suốt khu vực này - một khu vực tự hào có số vùng đa dạng sinh học nhất trên thế giới. Tăng trưởng dân số nhanh, cùng với quá trình đô thị hoá, công nghiệp hóa và đầu tư vào cơ sở hạ tầng, bổ sung cho tốc độ tăng trưởng kinh tế (trên 5 phần trăm) đối với khu vực này trong trung hạn.
Tổng quan về thị trường khu vực
Năm 2014, nếu như các thành viên của ASEAN thành một nước, thì họ sẽ là nền kinh tế lớn thứ 7 (2,6 nghìn tỷ USD) và dân số (622 triệu) lớn thứ ba trên thế giới. Thị trường về công nghệ môi trường cũng lớn và đang tăng trưởng tương tự như vậy. Nếu như các thành viên của ASEAN được ghi nhận là một nước duy nhất trong báo cáo này, thì họ sẽ xếp hạng trong số ba nước đứng đầu.
Nhu cầu về cơ sở hạ tầng giao thông, nước sạch, năng lượng và quản lý chất thải rắn gia tăng trong khu vực sôi động này đang đặt ra một thách thức lớn cho tất cả các nước ASEAN và chính phủ của họ. Nhằm cố gắng giải quyết một số vấn đề môi trường, gần đây một số chính phủ đã áp dụng các chính sách quản lý và khung pháp lý môi trường nghiêm ngặt hơn. Thí dụ, Thái Lan đã thành lập các bộ phận môi trường trong Tòa Án Tối cao, Tòa Phúc thẩm và xét xử. Mặc dù có những bước phát triển tích cực, nhưng hầu hết các nước thành viên ASEAN vẫn phải đối mặt với những thách thức tương tự trong việc thực hiện và thực thi các luật và quy định về môi trường.
Định hướng Hoạt động Môi trường của Ngân hàng Phát triển Châu Á năm 2013-2020 khuyến nghị rằng các nước thành viên đang phát triển, bao gồm cả các nước Đông Nam Á, đã có hành động chuyển đổi sang tăng trưởng xanh theo hướng đầu tư thêm nguồn lực vào các chương trình cải tiến quy mô lớn có thể bao gồm các dự án trình diễn toàn ngành, loại bỏ các rào cản, sáng kiến về chính sách, các chương trình triển khai mở rộng, phổ biến và chuyển giao các công nghệ sạch.
Kế hoạch chi tiết của Cộng đồng Văn hoá Xã hội ASEAN (2009-2015) cũng đã nêu bật việc sử dụng "công nghệ hợp lý thân thiện với môi trường" để thúc đẩy phát triển bền vững trong khu vực. Để phát triển bền vững, trong Kế hoạch chi tiết tuyên bố rằng các quốc gia Đông Nam Á cần phải tập trung giải quyết vấn nạn phá rừng, mất đa dạng sinh học, các đám mây bụi xuyên biên giới và các khu vực mà không khí và nước bị ô nhiễm nặng. Các quốc gia Đông Nam Á cũng rất dễ bị tổn thương trước những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Với các sự kiện thời tiết cực đoan dự kiến sẽ gia tăng cả về tần suất lẫn mức độ nghiêm trọng và mực nước biển dâng cao đang đe doạ đến các bờ biển của khu vực cả về kinh tế và dân cư, bắt buộc các Chính phủ phải có các nỗ lực thích ứng và giảm thiểu. Một số nước ASEAN hiện đã đưa ra các mục tiêu về khí hậu. Cụ thể, Malaysia đưa ra mục tiêu giảm 40% cường độ cacbon trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2020 từ mức năm 2005; Thái Lan đã đề xuất cắt giảm 20% lượng phát thải vào năm 2030 so với mức kinh doanh bình thường, mức cắt giảm có thể tăng đến 25% nếu có sự hỗ trợ quốc tế. Singapore đã cam kết cắt giảm 16% lượng khí thải nhà kính so với mức kinh doanh bình thường hàng năm vào năm 2020.
Hình minh hoạ
 

Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) là một sáng kiến mới được đưa ra nhằm thúc đẩy thương mại tự do và các dòng vốn giữa các quốc gia thành viên. Ngoài ra, bốn nước Đông Nam Á (Singapore, Malaysia, Việt Nam và Brunei) là các bên tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), có tiêu chuẩn môi trường cao nhất so với bất kỳ các Hiệp định thương mại khác. Như vậy, Hiệp định TPP nâng cấp các điều khoản về môi trường trong Hiệp định Thương mại Tự do Hoa Kỳ (FTA) với Singapore. Chương Mua sắm Chính phủ của Hiệp định TPP cũng bao gồm các cam kết bổ sung ngoài các Hiệp định trước và khẳng định cam kết của các bên đảm bảo các thủ tục đấu thầu minh bạch, các quy chuẩn kỹ thuật không phân biệt và đánh giá khách quan các quyết định mua sắm. Hiệp định TPP đã kết thúc vào tháng 10 năm 2015 và được ký kết vào tháng 2 năm 2016. Hiện tại, Hiệp định này đang trong quá trình phê chuẩn tại mỗi quốc gia của 12 nước đối tác. Hiệp định tiêu chuẩn cao này sẽ giúp tạo thuận lợi cho thương mại hàng hoá và dịch vụ môi trường thông qua tăng cường các chế độ môi trường và xóa bỏ thuế đối với hàng hoá môi trường, do đó tăng khả năng cạnh tranh của các công nghệ Mỹ tại các thị trường TPP tại Đông Nam Á và các nơi khác. Việc tăng cường quan tâm của các nhà hoạch định chính sách đến các vấn đề môi trường, cùng với dòng chảy thương mại tự do hơn, các các kênh cung cấp dự án mạnh và các mô hình tài trợ sáng tạo sẽ mang đến nhiều cơ hội cho các công ty Mỹ quan tâm tới việc tăng trưởng mạnh trong khu vực.
Những rào cản Thị trường
Ủy ban Cố vấn Thương mại Công nghệ Môi trường (ETTAC) và Văn phòng Năng lượng và Môi trường đã xác định những rào cản sau đây là vấn đề nan giải nhất đối với các công ty công nghệ môi trường đang cố gắng xuất khẩu hoặc làm việc ở Đông Nam Á:
1. Tham nhũng
Một số quốc gia trong khu vực được nhìn nhận là có tham nhũng cao, trong khi một số khác lại ít hơn. Theo Chỉ số nhận thức tham nhũng năm 2015 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, các nước thành viên ASEAN chỉ có Malaysia và Singapore đạt trên 50/100, trong đó 100 là cực kỳ trong sạch.
2. Đối xử ưu đãi / Đấu thầu
ETTAC báo cáo các trường hợp ưu đãi cao hơn đối với các công ty từ các một số quốc gia nhất định (ví dụ Trung Quốc, Nhật…) so các công ty từ các nước khác, trong khu vực công hoặc tư nhân hoặc cả hai, tùy thuộc vào quốc gia.
3. Thực thi quy định
Mặc dù có các cơ chế điều tiết hỗ trợ tăng trưởng thị trường công nghệ môi trường trong khu vực, nhưng việc thực thi quy định yếu ở một số thị trường đã làm giảm nhu cầu công nghệ và cản trở tăng trưởng thị trường và các cơ hội xuất khẩu.
Thực tiễn tại Philippines
Kiểm soát ô nhiễm không khí
Đạo luật Không khí sạch của Philippines, năm 1999 (Đạo luật số 8749) quy định Cục Môi trường và Tài nguyên (DENR) xây dựng Kế hoạch Hành động Kiểm soát Không khí phối hợp với các cơ quan có liên quan khác xây dựng tiêu chuẩn chất lượng không khí nhằm bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, an toàn và phúc lợi chung; ban hành hoặc từ chối cấp giấy phép. Kế hoạch Hành động Kiểm soát Không khí dưới Đạo luật Không khí sạch quy định việc thiết lập và vận hành các thiết bị thích hợp, các phương pháp, các hệ thống và quy trình cần thiết để giám sát, biên soạn và phân tích dữ liệu về chất lượng không khí xung quanh. Đạo luật về Không khí sạch cũng quy định một Khung khổ Cải thiện Chất lượng Không khí Tích hợp, giao nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc chính quyền địa phương (LGUs) xây dựng một kế hoạch hành động nhằm đạt được và duy trì các tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh. Theo dữ liệu của Phòng Quản lý Môi trường của DENR (EMB) thì nồng độ chất gây ô nhiễm trung bình tại Khu vực Thủ đô đã đạt 101 micrograms trên mỗi mét khối (μg / m3) theo tổng số hạt lơ lửng (TSP) vào nửa sau của năm 2015, giảm từ 106 μg / Ncm theo cùng kỳ năm 2014. Theo các kết quả trong Bản kiểm kê khí thải quốc gia năm 2012, 69 % ô nhiễm không khí là từ các nguồn lưu động. Phần còn lại từ các nguồn tại chỗ và khu vực, chẳng hạn như các hoạt động xây dựng và các tuyến đường lộ không được trải nhựa. Tại Metro Manila, 90% ô nhiễm không khí từ nguồn lưu động. Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về điện và giá than thấp, tháng 6 năm 2015, chính phủ Philippin đã công bố rằng 23 nhà máy điện đốt than mới sẽ được đưa vào sử dụng vào năm 2020, trong đó có hai nhà máy ở thành phố Davao, mở rộng 400 MW các nhà máy hiện có ở tỉnh Quezon, một nhà máy 600 MW ở Subic và một nhà máy công suất 600 MW tại Bataan. Trong tương lai than dự kiến sẽ chiếm một tỷ lệ đáng kể trong hỗn hợp năng lượng, ngay cả khi Philippines cố gắng đạt được các cam kết về khí hậu, bao gồm tăng gấp 3 lần công suất lắp đặt các nhà máy phát điện từ các nguồn năng lượng tái tạo vào năm 2030. Ngoài các công nghệ kiểm soát khí thải, khi có nhu cầu, các nhà phân phối hoặc các đại lý trong nước phải mua các công nghệ và thiết bị cần thiết ở nước ngoài và vận chuyển về Philippines lắp đặt như: các công nghệ và thiết bị liên quan đến kiểm kê phát thải, kiểm tra nguồn, đánh giá và lắp đặt, các hệ thống bảo trì và sửa chữa. Các công nghệ chính có nhu cầu: Thiết bị giám sát chất lượng không khí xung quanh; Công nghệ đo phát thải nguồn; Thiết bị khử lưu huỳnh trong khí thải ống khói; Máy lắng tĩnh điện; Bộ chuyển đổi xúc tác; Công nghệ khử xúc tác chọn lọc; Kiểm soát khử không xúc tác có chọn lọc; Các dịch vụ thanh sát, điều chỉnh, bảo trì và sửa chữa về xử lý chất thải.
Quản lý và tái chế chất thải
Quản lý chất thải ở Philippines được điều chỉnh bởi Đạo luật quản lý chất thải rắn sinh thái năm 2000 và Đạo luật kiểm soát chất độc và chất nguy hại năm 1990 (Đạo luật số 6969). Đây là khu vực không chính thức mạnh, với một số lượng lớn những người tích cực tham gia thu gom, phân loại và tái chế chất thải. Các đơn vị thuộc chính quyền địa phương (LGUs) chịu trách nhiệm chính thức về quản lý chất thải rắn bao gồm thu gom và tiêu hủy. Tuy nhiên, việc cung cấp các dịch vụ này vẫn còn nhiều thách thức do hạn chế về vốn, ngân sách và nhân sự, cũng như các hạn chế về cơ sở vật chất, đặc biệt ở khu vực thành thị. Hiện tại mới chỉ thu gom được khoảng 85% trong tổng số hơn 9.000 tấn rác thải được thải ra mỗi ngày tại Metro Manila. Trên toàn quốc, số lượng rác thải ước tính được tạo ra mỗi ngày là 40.000 tấn, nhưng chỉ mới thu gom được từ 40 đến 85%. Hầu hết các chất thải rắn thu gom được đưa đến các bãi đổ rác hở thường dễ bắt lửa và gây ô nhiễm các nguồn cung cấp nước ăn chưa được xử lý của địa phương. Vào cuối năm 2015, Philippines có 350 bãi đổ rác hở, 203 cơ sở xử lý chất thải và 84 bãi chôn lấp hợp vệ sinh và 17 bãi chôn lấp hợp vệ sinh đang được xây dựng.
Năm 2016, Quốc hội đã cấp cho Bộ Môi trường và Tài nguyên (DENR) 500 triệu pexo (khoảng 10,8 triệu USD) để xây dựng năng lực quản lý chất thải rắn nhằm giúp các chính quyền địa phương thực hiện theo Đạo luật Quản lý Chất thải rắn. Đạo luật quy định việc thay thế bãi rác hở bằng các bãi chôn lấp hợp vệ sinh hoặc các cơ sở thu hồi vật liệu, cùng với việc phân bổ các quỹ hiện có, có thể tạo cơ hội cho các công ty Mỹ tham gia trong lĩnh vực này.
Các công nghệ chủ chốt có nhu cầu: Công nghệ thu gom chất thải; Hệ thống chôn lấp hợp vệ sinh; Thiết bị xử lý vật liệu; Thiết bị tái chế; Thiết bị quan trắc và phân tích môi trường
Xử lý nước và nước thải
Xử lý và Cung cấp nước đô thị, mở rộng hệ thống xử lý và vận chuyển nước uống ở Philipin là cần thiết. Khoảng 43% dân số được tiếp cận nước uống tập trung chủ yếu ở các khu vực thành thị, tại đây gần 61% dân số được tiếp cận (trái ngược với các khu vực nông thôn, nơi mà chỉ có 25% dân số được tiếp cận). Xu hướng nhân khẩu học, bao gồm đô thị hoá nhanh và dân số ngày càng tăng, đang tạo áp lực lên năng lực của hệ thống hiện tại về đáp ứng nhu cầu và hậu quả là nới rộng hơn nữa khoảng cách tiếp cận. Thí dụ, người ta ước tính rằng Manila, trung tâm công nghiệp và dân số của Philipin, hiện đang bị thiếu 400.000 m3 nước / ngày và sự thiếu hụt nước này dự kiến sẽ tăng nhanh trong những năm tới.
Để đáp ứng khoảng cách tiếp cận hiện tại và giải quyết các nhu cầu được dự báo trong tương lai, chính phủ đang tập trung vào phát triển các dự án xử lý và cung cấp nước. Vào tháng 12 năm 2015, Hệ thống Cấp thoát nước Đô thị - cơ quan chính phủ phụ trách hệ thống cấp và thoát nước ở Metro Manila, đã trao dự án Cung cấp nước Bulacan cho Công ty Phát triển nước sạch Luzon. Hiện tại, dự án cung cấp nước Thế kỷ mới trị giá 398 triệu USD đang được đấu thầu. Cả hai dự án này đều nằm trong chương trình hợp tác công - tư của chính phủ Philippines. Cho dù kỳ vọng của chính phủ, hầu hết các dự án cơ sở hạ tầng của khu vực công được đồng tài trợ thông qua sự phối hợp của các quỹ của liên bang, các ngân hàng phát triển đa phương và viện trợ song phương, điều này giảm khả năng đối với tất cả các dự án đã được đặt kế hoạch hoàn thành trong thời gian ngắn. Thông qua các phương tiện tài chính chuyên dụng tại Ngân hàng Phát triển Châu Á, tuy nhiên, một loạt các dự án dự kiến sẽ được cung cấp, bao gồm dự án cải tạo đường nước Angat, Dự án Phát triển Cấp nước cấp Quận và Dự án Phát triển cấp nước và các hệ thống bảo vệ sức khỏe dân chúng Metro Manila.
Các công nghệ chủ chốt có nhu cầu: Dịch vụ kỹ thuật, mua sắm và xây dựng; Lọc; Lọc tiên tiến; Hoá chất khử trùng; Khử trùng bằng tia UV; Khử trùng bằng ozon; Bơm, đường ống và van; Công nghệ lưu chứa; Các hệ thống điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu (SCADA); Hệ thống quan trắc trực tuyến.
Xử lý nước thải đô thị và Quản lý Bùn, tương tự như với việc thiếu đường ống dẫn nước uống, việc tiếp cận với xử lý nước thải cũng bị hạn chế, số hộ gia đình kết nối với mạng lưới thoát nước nhỏ hơn 5%. Maynilad, cơ quan phục vụ phía tây Manila, tuyên bố sẽ đầu tư 129 triệu USD cho các dự án nước thải vào năm 2016. Maynilad đang có năm dự án hệ thống thoát nước đó là: hệ thống thoát nước Muntinupa, 66 triệu lít / ngày, hệ thống thoát nước Valenzuela 60 triệu lít / ngày, hệ thống thoát nước Paranaque 76 triệu lít / ngày và hệ thống thoát nước Cavite 21 triệu lít / ngày. Hệ thống thoát nước Trung tâm Manila 140 triệu lít / ngày sẽ được chào thầu ngay khi Maynilad mua lại đất cho dự án.
Nước Manila- Công ty tiện ích phục vụ phía đông Manila, đang có bốn dự án hệ thống thoát nước đang hoạt động: Hệ thống thoát nước Bắc Marikina 100 triệu lít/ngày, hệ thống thoát nước Bắc và Nam Pasig 100 triệu lít / ngày, và Hệ thống thoát nước ngầm Bắc Taguig 75 triệu lít / ngày. Hệ thống thoát nước mưa UP Sub- Catchment 5 triệu lít / ngày sẽ được chào thầu vào năm 2016.
Các công nghệ chủ chốt có nhu cầu: Bơm, ống và van; Phân hủy kỵ khí; Hệ thống thoát nước bùn; Hệ thống xử lý bùn; Thiết bị giám sát; Kiểm tra thiết bị
Nước chế biến và sản xuất, ngành nước công nghiệp ở Philippines tập trung vào nhu cầu nước tư nhân cho các quy trình sản xuất và xử lý nước thải. Các công nghệ chủ chốt có nhu cầu: Bơm, đường ống và van; Công nghệ lưu trữ; Tiêu hủy kỵ khí; Xử lý hóa chất tiên tiến; Công nghệ màng; Lọc tiên tiến
Liên hệ và Liên kết thị trường
Cục Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên: http://www.denr.gov.ph
Cơ quan Quản lý Nước của địa phương: http://www.lwua.gov.ph
Hệ thống nước và thoát nước đô thị: http://www.mwss.gov.ph
Hệ thống Mua sắm điện tử Chính phủ Philippin: http://philgeps.gov.ph
Trung tâm Quan hệ đối tác Công-Tư: http://www.ppp.gov.ph
Công ty Cổ phần Nước Manila: http://www.manilawater.com
Công ty Dịch vụ Nước Maynilad http://www.mayniladwater.com
Ngân hàng Phát triển Châu Á: Http://www.adb.org
Liên lạc Dịch vụ Thương mại Hoa Kỳ với ADB: http // www.export.gov / adb
Dịch vụ Thương mại Hoa Kỳ ở Philipin: Http://www.export.gov/philippines
Nguồn www.trade.gov/topmarkets/pdf/Environmental_Technologies_Southeast_Asia.
PV
Ý kiến bạn đọc
Click Here To Refresh
Cơ quan chủ quản: Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam
Tạp chí Điện tử Công nghiệp môi trường
Tổng Biên tập: Nguyễn Duy Thái
Giấy phép Báo Điện tử số: 27/GP-BTTTT cấp 23/01/2019 của Bộ Trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông 
Tòa soạn: Bộ Công Thương, số 655 Phạm Văn Đồng, Hà Nội.
Điện thoại: 02432009454 * Email: vietbai@gmail.com