Thứ Ba, 23/04/2019 - 14:08
1
1
17/09/2018 21:12

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam

Bảo vệ môi trường, coi trọng vấn đề con người là một trong những nhân tố hàng đầu góp phần trực tiếp vào thành công và phát triển bền vững cho mỗi doanh nghiệp. Nhà nước và doanh nghiệp, phải đồng hành để tạo cơ hội, hướng tới nền kinh tế bền vững và phát triển trong tương lai.
Thực trạng hoạt động bảo vệ môi trường và quyền lợi cho người lao động tại Việt Nam.
Sau hơn 30 năm mở cửa, hội nhập cùng nền kinh tế Thế Giới, có thể nói kinh tế Việt Nam đã có bước phát triển thần kì, doanh nghiệp trong nước được tư nhân hóa và mở rộng đầu tư, phát triển với nước ngoài. Tuy nhiên, các doanh nghiệp coi lợi nhuận là mục đích hàng đầu chiếm số lượng không nhỏ đã khiến cho các vấn đề về môi trường, an sinh xã hội tại các khu công nghiệp trong cả nước xảy ra nhiều vấn đề bất cập. Năm 2008, sự kiện Vedan xả chất thải ra sông Thị Vải, tỉnh Đồng Nai đã gây chấn động dư luận một thời; Công ty Tung Kuang tại Hải Dương; Công ty Long Tech tại Bắc Ninh và mới đây là Công ty Fomosa Đài Loan tại Hà Tĩnh....bị phanh phui; Không ít các doanh nghiệp sản xuất, phân phối sản phẩm không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, tác động trực tiếp đến môi trường và sức khỏe cho người dân. Thêm vào đó, việc các doanh nghiệp FDI khai thác bừa bãi thiếu quy hoạch các tài nguyên khoáng sản từ dầu khí đến than đá, quặng đã và đang gây tổn thất lớn nguồn tài nguyên không tái tạo được của Việt Nam. Song song với đó, tình trạng công nhân bị buộc thôi việc để hạn chế tiền lương, thưởng ngày càng gia tăng trong những năm gần đây. Độ tuổi thất nghiệp trên 35 tuổi diễn ra phổ biến, các doanh nghiệp để xảy ra tình trạng tranh chấp lao động, giảm các chế độ phúc lợi… giữa người sử dụng lao động và người lao động đã khiến cho hàng ngàn cuộc đình công xảy ra để đòi quyền lợi.
Cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp
Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và đầu tư, tính đến năm 2017, Việt Nam thu hút 2.591 dự án FDI mới với tổng 21,3 tỷ USD, tăng 3.5% về số lượng dự án và tăng 42,3% số vốn so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 47,6% tổng số vốn đăng ký mới và bổ sung. Tính tới thời điểm hiện nay, nguồn vốn FDI đã có mặt ở 63 tỉnh thành trong cả nước. Trong đó, Thanh Hóa là tỉnh có số vốn FDI đăng ký lớn nhất, chiếm 14,8% tổng vốn đăng ký cấp mới của 58 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới, và Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất chiếm 36,4% tổng vốn đăng ký cấp mới trong số 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong năm 2017.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ tập trung đầu tư vào 1 ngành nghề nào mà ngày càng mở rộng trên nhiều lĩnh vực. Chiếm tỷ trọng cao nhất là ngành công nghiệp chế biến (53,8%), dịch vụ như bất động sản (20,9%) và các ngành khác như: Khai khoáng, nông - lâm nghiệp, y tế, giáo dục, khách sạn… Có khoảng 101 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, trong đó, phải kể đến Hàn Quốc, Nhật Bản, Singaore, Đài Loan, Hồng Kong… . Hiện có khoảng 30 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn đa quốc gia, đóng góp trực tiếp vào cải thiện cơ cấu xuất khẩu và cân đối ngoại thương của Việt Nam.
Qua rà soát, đánh giá các điều khoản trong thỏa ước lao động tập thể của Liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Giang thực hiện theoyêu cầu thành lập thư viện thỏa ước điện tử của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, có tới 80% thỏa ước trên địa bàn tỉnh này có từ 3 - 5 nội dung có lợi cho người lao động nằm ngoài các quy định bắt buộc của pháp luật lao động. Một số doanh nghiệp thực hiện nghiêm việc ký mới, ký lại hoặc bổ sung phụ lục phát sinh với điều khoản có lợi cho người lao động, như: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nichirin Việt Nam (Khu công nghiệp Quang Châu) có điều khoản cho phép công nhân nghỉ giữa ca để giảm căng thẳng; Công ty Trách nhiệm hữu hạn Việt Pan Pacific (Thành phố Bắc Giang) khen thưởng lao động tích cực theo tuần, theo tháng; Công ty Trách nhiệm hữu hạn Haem Vina (Khu công nghiệp Song Khê - Nội Hoàng) phát vitamin cho công nhân nữ có thai và ứng trước tiền lương 6 tháng nghỉ thai sản cho lao động nữ sinh con để bảo đảm chi phí sinh hoạt…
Bên cạnh những thành công kể trên, thu hút FDI trong thời gian qua cũng bộc lộ nhiều bất cập như: Chất lượng chưa tương xứng với số lượng; Các dự án FDI có công nghệ trung bình so với thế giới (80%), một phần đáng kể có công nghệ lạc hậu (14%) và chỉ có 6% có công nghệ cao. Việt Nam mới chỉ thu hút khoảng 100/500 tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu thế giới, trong khi đó Trung Quốc đã thu hút 400 tập đoàn. Một số tập đoàn công nghệ cao nổi tiếng toàn cầu như Nokia, Samsung... công đoạn sản xuất tại Việt Nam là công đoạn cuối, tức là chỉ lắp ráp, không đòi hỏi lao động chất lượng cao và công nghệ tiên tiến.
Mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu, không hỗ trợ nhiều cho khu vực doanh nghiệp trong nước phát triển. Tỷ lệ sản phẩm đầu vào được mua từ các nhà chế biến chế tạo trong nước ở tất cả loại hình doanh nghiệp FDI là tương đối thấp. Các doanh nghiệp FDI nhập khẩu phần lớn thành phần đầu vào thông qua công ty mẹ hay nhập trực tiếp, chỉ số ít sử dụng đầu vào từ các doanh nghiệp tư nhân trong nước. Hiện tượng thất thu thuế và chuyển giá trên thực tế là nghiêm trọng.
Tồn tại nhiều hạn chế song song với tốc độ phát triển kinh tế đã ảnh hưởng không nhỏ đến tài nguyên, môi trường sống của nước ta, khiến chất lượng cuộc sống của người dân không được cải thiện đáng kể kéo theo vô vàn các hệ lụy khác. Do đó, để tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI đối với bảo vệ môi trường và người lao động, cần có những đột phá mạnh mẽ về tăng cường nhận thức và chỉ đạo, điều hành việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật thực hiện các đường lối, chiến lược, chính sách quốc gia liên quan đến hoàn thiện các giá trị chuẩn quốc gia mới và các giá trị cụ thể về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với môi trường và lao động trong văn hóa doanh nghiệp, hướng tới sự tin tưởng, đồng thuận, tự hào và hưởng ứng của cộng đồng dân cư và doanh nghiệp vào các giá trị dân chủ, tiến bộ, vì con người, giải phóng con người, tôn trọng quyền con người, tạo điều kiện cho con người phát triển tự do, toàn diện, hài hòa, phát triển xã hội và phục vụ cuộc sống của cá nhân, cũng như của cộng đồng xã hội.
Vai trò, trách nhiệm của Nhà nước đối với hoạt động bảo vệ môi trường của doanh nghiệp
Nhà nước cần tăng cường năng lực thể chế, hoàn thiện cơ sở pháp lý, kiện toàn bộ máy và phân công rõ ràng, trách nhiệm cá nhân cụ thể, đồng bộ trong công tác bảo vệ môi trường và lao động từ trung ương đến địa phương. Kiên quyết xử lý những hành vi vô cảm, vô trách nhiệm, vô đạo đức và những biểu hiện phi nhân văn, ích kỷ, đồng thời hỗ trợ tích cực cho các tổ chức xã hội, bảo vệ môi trường và người lao động. Nói cách khác, Nhà nước kiến tạo có vai trò một nhà tổ chức môi trường kinh doanh để doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, tuân thủ nghiêm túc các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường và người lao động, thực sự coi đó là mục tiêu, động lực cạnh tranh và phát triển bền vững của doanh nghiệp
Năm 2018 là thời điểm khởi đầu cho tư duy mới về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI với môi trường và lao động ở Việt Nam. Theo đó, Bộ luật Hình sự mới của Việt Nam có hiệu lực từ tháng 1/2018 trong đó, 33/317 tội danh được áp dụng đối với pháp nhân thương mại với các tội: buôn lậu, trốn thuế, gây ô nhiễm môi trường, buôn bán hàng cấm, hàng giả…
Trên cơ sở đó, các bộ, ban, ngành địa phương cần chủ động phân công và phối hợp trách nhiệm rõ ràng, cụ thể, đề cao trách nhiệm người đứng đầu và cá nhân được giao; đẩy mạnh tuyên truyền, triển khai nghiêm túc, hiệu quả các quy định của pháp luật, đồng thời tăng cường thanh tra kiểm tra, nhận diện đúng và nhanh chóng, kịp thời xử lý các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường và người lao động; thành lập và giới thiệu các tổng đài, số điện thoại nóng, các trang tin và các văn phòng thông tin, tư vấn và dịch vụ về bảo vệ môi trường và người lao động.
Hơn nữa, cần khuyến khích các thiết chế đại diện, trung gian, các tổ chức phi chính phủ (NGOs), hiệp hội, nhóm lợi ích,… là các tổ chức dân sự đóng vai trò rất lớn trong việc ngăn chặn và bênh vực quyền lợi cho người lao động và người tiêu dùng về những vi phạm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với môi trường và lao động. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát và phản biện xã hội và cả sức ép xã hội cho xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh cho các doanh nhân về trách nhiệm với môi trường và lao động; Kịp thời phát hiện và khen thưởng, tôn vinh thích đáng các đơn vị và cá nhân có thành tích, trừng phạt nghiêm khắc các sai phạm cố tình...
Việc xử lý hình sự đối với các hoạt động vi phạm trách nhiệm xã hội đã khiến cho các nhà đầu tư phải nâng cao đạo đức kinh doanh và trách nhiệm khi làm ăn ở Việt Nam không chỉ hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam, tiến tới hòa cận pháp lý chung của toàn thế giới. Thực hiện nghiêm túc đạo đức kinh doanh và tuân thủ pháp luật nước sở tại sẽ có lợi cho cả doanh nghiệp và sự phát triển, thịnh vượng chung của toàn xã hội nhằm khẳng định các giá trị chuẩn quốc gia, hình thành môi trường kinh doanh thượng tôn pháp luật, đề cao đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã hội, cạnh tranh lành mạnh trong cộng đồng doanh nghiệp và cả trong giới chức quản lý Việt Nam.
PV
Ý kiến bạn đọc
Click Here To Refresh
Cơ quan chủ quản: Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam
Tạp chí Điện tử Công nghiệp môi trường
Tổng Biên tập: Nguyễn Duy Thái
Giấy phép Báo Điện tử số: 27/GP-BTTTT cấp 23/01/2019 của Bộ Trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông 
Tòa soạn: Bộ Công Thương, số 655 Phạm Văn Đồng, Hà Nội.
Điện thoại: 02432009454 * Email: vietbai@gmail.com