Lũng Cú (Tuyên Quang): Gỡ nút thắt nguồn nước sinh hoạt ở vùng cực Bắc
Nước sinh hoạt - nỗi lo mỗi mùa khô
Ở xã Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang, nước sinh hoạt không chỉ là nhu cầu thiết yếu mà còn là vấn đề gắn trực tiếp với chất lượng cuộc sống, sản xuất và định hướng phát triển kinh tế – xã hội địa phương. Trên địa hình núi cao, bị chia cắt bởi những dãy núi đá, nguồn nước mặt và nước ngầm hạn chế, việc bảo đảm đủ nước cho người dân luôn là thách thức, nhất là trong những tháng mùa khô.
Theo thông tin rà soát của UBND xã Lũng Cú, toàn xã có 2.829 hộ với 15.805 nhân khẩu. Tình trạng thiếu nước hoặc nguồn cấp không ổn định ảnh hưởng đến toàn bộ số hộ dân trên địa bàn, trong đó hơn một nửa số hộ thuộc nhóm thiếu nước nghiêm trọng, với mức thiếu từ 70% đến dưới 100% theo số liệu địa phương.
![]() |
| Lãnh đạo xã Lũng Cú khảo sát nguồn nước phục vụ sinh hoạt tại thôn Lô Lô Chải. Vào mùa khô, nhu cầu sử dụng nước tăng cao cùng lượng khách du lịch đông khiến tình trạng thiếu nước tại địa phương thêm áp lực. (Ảnh Minh Ngọc) |
Cụ thể, có 1.430 hộ với 7.575 nhân khẩu thuộc nhóm thiếu nước từ 70% đến dưới 100%; 416 hộ với 2.336 nhân khẩu thiếu từ 50% đến dưới 70%; 605 hộ với 3.165 nhân khẩu thiếu từ 30% đến dưới 50%; và 371 hộ với 2.009 nhân khẩu thiếu dưới 30%.
Những con số này cho thấy áp lực lớn đối với việc bảo đảm nước sinh hoạt ở địa bàn vùng cao. Khi lượng mưa giảm, các khe nước suy yếu, người dân tại nhiều thôn phải đối mặt với tình trạng nguồn nước không đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng hằng ngày. Việc tích trữ, vận chuyển và sử dụng tiết kiệm nước trở thành công việc thường xuyên của nhiều gia đình.
Bà Vần Thị Máy, người dân thôn Lũng Táo, xã Lũng Cú, chia sẻ rằng gia đình thường xuyên thiếu nước vào mùa khô. Vì vậy, việc Nhà nước hỗ trợ người dân lu chứa nước hoặc xây bể tích trữ có ý nghĩa thiết thực đối với đời sống. Theo bà, đây là sự hỗ trợ đúng với nhu cầu của bà con, giúp các gia đình chủ động hơn trong việc dự trữ nước để sử dụng khi nguồn cấp bị hạn chế.
Từ thực tế ở các hộ dân, có thể thấy giải quyết tình trạng thiếu nước không chỉ phụ thuộc vào việc đưa nước từ nguồn đến nơi sử dụng, mà còn cần tính đến khả năng tích trữ tại chỗ, nhất là đối với những khu dân cư nằm xa công trình cấp nước tập trung.
Ông Dương Ngọc Đức, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Lũng Cú, cho biết tình trạng thiếu nước ở vùng cao thường diễn ra trong mùa khô, từ khoảng tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau. Trong điều kiện địa hình đặc thù, xây dựng hồ treo vẫn là một giải pháp hữu hiệu nhằm tích trữ nước, phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân.
Theo ông Đức, việc bảo đảm nguồn nước cần được xem xét phù hợp với điều kiện từng khu vực, kết hợp giữa các công trình tích trữ quy mô tập trung với giải pháp dự trữ nước tại hộ gia đình. Đây cũng là cơ sở để địa phương rà soát nhu cầu, xác định những hạng mục cần ưu tiên sửa chữa, nâng cấp và đầu tư trong thời gian tới.
Không chỉ người dân và chính quyền xã, những người trực tiếp quản lý địa bàn thôn cũng nhận thấy rõ áp lực về nguồn nước mỗi khi mùa khô đến.
Ông Vừ Chúng Vư, Trưởng thôn Há Súng, cho biết nhiều thôn đã được Nhà nước đầu tư xây dựng hồ treo để tích trữ nước. Tuy nhiên, vào mùa khô, tình trạng thiếu nước vẫn diễn ra, bởi lượng nước dự trữ không phải lúc nào cũng đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người dân trong thời gian dài.
Thực tế này cho thấy, xây dựng thêm công trình tích trữ là cần thiết ở những nơi còn thiếu, nhưng hiệu quả sử dụng lâu dài còn phụ thuộc vào dung tích hồ, khả năng bổ sung nguồn nước, tình trạng vận hành và công tác quản lý, bảo dưỡng công trình.
Hạ tầng cấp nước trước yêu cầu rà soát, nâng cấp
Theo kết quả rà soát của địa phương, xã Lũng Cú hiện có 25 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, gồm 6 hồ treo và 19 công trình cấp nước tự chảy. Các công trình do UBND xã quản lý, phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân và không thu phí theo thông tin địa phương cung cấp. Nguồn cấp chủ yếu dựa vào nước mưa và nước từ các khe.
Tuy nhiên, nhiều công trình được xây dựng từ lâu, qua thời gian sử dụng đã xuất hiện tình trạng hư hỏng đường ống dẫn, bể lọc, bể chứa và các hạng mục kỹ thuật. Một số tuyến ống bị rò rỉ, đứt gãy, ảnh hưởng đến khả năng dẫn nước và làm giảm hiệu quả khai thác công trình.
Tại hệ thống cấp nước khu vực trung tâm xã, phục vụ khoảng 160 hộ, các hạng mục bể lọc, đường ống và bể chứa đã hư hỏng, đang được triển khai nâng cấp, sửa chữa. Công trình cấp nước thôn Cẳng Tằng, phục vụ 69 hộ, cũng cần được cải tạo các hạng mục chính để bảo đảm khả năng cấp nước.
Ở thôn Xín Mần Kha, khoảng 350 m đường ống bị hư hỏng; tại thôn Séo Lủng, khoảng 400 m đường ống cần sửa chữa, nâng cấp. Hệ thống cấp nước tự chảy ở Lô Lô Chải, phục vụ khoảng 72 hộ, cũng đang được cải tạo các hạng mục bể lọc, đường ống và bể chứa.
![]() |
| Những bồn chứa nước được hỗ trợ từ nguồn xã hội hóa, giúp người dân xã Lũng Cú chủ động tích trữ nước, từng bước khắc phục khó khăn trong sinh hoạt vào mùa khô. (Ảnh Minh Ngọc) |
Một số khu vực khác có khối lượng hư hỏng đáng kể. Tại thôn Má Xí, khoảng 1.450 m đường ống cùng các hạng mục bể lọc, bể chứa cần được sửa chữa; thôn Bản Thùng có khoảng 1.000 m đường ống và các đầu nối bị hỏng; thôn Dì Thàng có khoảng 180 m đường ống cần thay thế. Tại thôn Lũng Táo, khoảng 250 m đường ống cùng bể lọc, bể chứa cần được khắc phục. Đáng chú ý, hệ thống cấp nước thôn Má Là Trên có khoảng 3.200 m đường ống hư hỏng, đặt ra yêu cầu sửa chữa để nâng cao khả năng cấp nước.
![]() |
| Hồ treo chứa nước tại xã Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang, góp phần tích trữ nguồn nước phục vụ sinh hoạt của người dân vùng cao, nhất là trong mùa khô. (Ảnh Minh Ngọc) |
Những bất cập trên cho thấy bài toán nước sinh hoạt ở Lũng Cú không chỉ nằm ở sự khan hiếm của nguồn nước tự nhiên. Khi công trình xuống cấp, nước dù đã được tích trữ hoặc khai thác cũng khó đến được các hộ dân một cách ổn định. Vì vậy, sửa chữa đường ống, khôi phục bể lọc, bể chứa và duy trì vận hành thường xuyên cần được thực hiện song song với việc đầu tư bổ sung nguồn nước.
Đối với các hồ treo và hệ thống tự chảy vẫn đang hoạt động, yêu cầu đặt ra là đánh giá khả năng cấp nước thực tế trong mùa khô, xác định những khu vực có nguy cơ thiếu hụt để chủ động phương án điều tiết, sửa chữa và bổ sung công trình khi cần thiết.
Việc rà soát được địa phương triển khai theo Văn bản số 7107/UBND-KTN của UBND tỉnh Tuyên Quang và hướng dẫn của Sở Dân tộc và Tôn giáo. Đây là cơ sở để xác định danh mục công trình cần khắc phục, nhu cầu đầu tư và thứ tự ưu tiên phù hợp với điều kiện thực tế.
Bảo đảm nước sinh hoạt gắn với phát triển du lịch bền vững
Lũng Cú có vị trí đặc biệt ở địa đầu cực Bắc của Tổ quốc, đồng thời sở hữu những giá trị nổi bật về cảnh quan, văn hóa và du lịch cộng đồng. Sự phát triển của các điểm đến, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch mở ra cơ hội tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, lượng khách tăng cũng làm gia tăng nhu cầu sử dụng nước, nhất là tại các khu vực tập trung nhiều cơ sở lưu trú và dịch vụ ăn uống.
Năm 2025, theo số liệu địa phương cung cấp, Lũng Cú đón khoảng 550.000 lượt khách. Trong 9 tháng đầu năm 2026, lượng khách đã vượt 430.000 lượt. Địa phương đặt mục tiêu phấn đấu đón trên 1 triệu lượt khách vào năm 2030.
Sự gia tăng này đòi hỏi hạ tầng thiết yếu phải được chuẩn bị tương xứng. Nước sạch không chỉ phục vụ sinh hoạt của cư dân mà còn là điều kiện để các cơ sở lưu trú, nhà hàng và dịch vụ du lịch hoạt động ổn định. Nếu nguồn nước không được bảo đảm, chất lượng dịch vụ, vệ sinh môi trường và sức hấp dẫn của điểm đến cũng có thể bị ảnh hưởng.
Trong bối cảnh đó, phát triển du lịch cần đi đôi với quản lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước. Các cơ sở kinh doanh cần chủ động giải pháp dự trữ, hạn chế thất thoát, sử dụng nước hợp lý; chính quyền địa phương cần tính toán nhu cầu nước của từng khu vực trong quá trình quy hoạch và tổ chức phát triển dịch vụ.
Đồng thời, cần tránh cách tiếp cận chỉ tập trung vào các điểm du lịch nổi tiếng mà chưa quan tâm đầy đủ đến những thôn còn khó khăn về nước sinh hoạt. Việc phân bổ nguồn lực phải xuất phát từ nhu cầu thiết yếu của người dân, đồng thời tính đến yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội chung của địa phương.
Cần giải pháp đồng bộ, có tính lâu dài
Theo đánh giá từ thực tế địa phương, tình trạng thiếu nước tại Lũng Cú xuất phát từ nhiều nguyên nhân đan xen. Lượng mưa phân bố không đều, thời gian khô hạn kéo dài, nguồn nước tự nhiên hạn chế và địa hình núi đá khiến việc khai thác, dẫn truyền nước gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, dân cư phân bố ở nhiều khu vực, khoảng cách từ nguồn đến các hộ dân xa, làm tăng chi phí xây dựng và duy tu hệ thống.
Bên cạnh những hạn chế về điều kiện tự nhiên, nguồn lực dành cho công tác bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên cũng là vấn đề cần được quan tâm. Nếu công trình không được kiểm tra định kỳ, các hư hỏng nhỏ có thể kéo dài, gây thất thoát nước và làm giảm hiệu quả đầu tư.
Ông Lương Triệu Luôn, Trưởng phòng Kinh tế xã Lũng Cú, là đầu mối chuyên môn cần làm rõ thêm các nội dung về danh mục công trình ưu tiên, nhu cầu kinh phí, tiến độ sửa chữa và phương án quản lý vận hành giai đoạn 2026-2030. Những thông tin này cần được cập nhật từ báo cáo chính thức của Phòng Kinh tế trước khi đăng tải thành phát biểu trực tiếp, nhằm bảo đảm chính xác về chuyên môn và trách nhiệm phát ngôn.
Từ thực trạng hiện nay, giải pháp trước mắt là tập trung khắc phục các công trình đã hư hỏng, ưu tiên những tuyến ống và hạng mục ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều hộ dân; kiểm tra khả năng vận hành của bể lọc, bể chứa, xử lý rò rỉ và bảo đảm chất lượng nước theo quy định. Cùng với đó, cần hướng dẫn người dân vệ sinh bể chứa, sử dụng tiết kiệm và dự trữ nước an toàn trong thời gian khô hạn.
Về lâu dài, xã cần xây dựng kế hoạch đầu tư cấp nước theo từng khu vực, trên cơ sở đánh giá đầy đủ nguồn nước, nhu cầu sử dụng, quy mô dân cư và khả năng vận hành công trình. Những nơi phù hợp có thể tiếp tục phát huy hiệu quả hồ treo; các khu vực sử dụng nước tự chảy cần được đánh giá khả năng duy trì nguồn cấp trong mùa khô. Việc lựa chọn giải pháp phải căn cứ điều kiện thực tế, tránh đầu tư dàn trải hoặc xây dựng công trình nhưng thiếu kinh phí bảo dưỡng sau đầu tư.
Cùng với nguồn lực của địa phương, việc đề xuất tỉnh và các cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ kinh phí, lồng ghép các chương trình, dự án phù hợp sẽ góp phần tháo gỡ khó khăn về vốn. Cơ chế quản lý sau đầu tư cũng cần được quan tâm, xác định rõ trách nhiệm kiểm tra, bảo dưỡng và sửa chữa để công trình hoạt động ổn định, lâu dài.
Bài toán nước sinh hoạt ở Lũng Cú không thể giải quyết chỉ bằng một vài công trình riêng lẻ. Điều quan trọng là kết hợp bảo vệ nguồn nước, nâng cấp hạ tầng, tăng năng lực tích trữ, quản lý vận hành hiệu quả và nâng cao ý thức sử dụng tiết kiệm trong cộng đồng.
Bảo đảm nguồn nước ổn định cho người dân vùng cực Bắc vừa là yêu cầu dân sinh trước mắt, vừa là nền tảng để nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ môi trường và phát triển du lịch theo hướng bền vững. Khi từng công trình được đầu tư đúng nhu cầu, vận hành hiệu quả và duy tu thường xuyên, nguồn lực dành cho nước sinh hoạt mới thực sự phát huy giá trị lâu dài đối với cộng đồng Lũng Cú.
TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.
CÔNG NGHỆ XỬ LÝ TRO BAY TỪ NHÀ MÁY ĐỐT RÁC PHÁT ĐIỆN TRÊN THẾ GIỚI VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TẠI VIỆT NAM


