Các mô hình và giải pháp phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành công nghiệp môi trường của Việt Nam

16/10/2026 15:00 Nghiên cứu trong nước
Sự phát triển của kinh tế tuần hoàn mở ra cơ hội để ngành công nghiệp môi trường Việt Nam cung cấp nguyên liệu thứ cấp, năng lượng và dịch vụ có giá trị cho nền kinh tế. Để hiện thực hóa cơ hội này, mỗi mô hình cần xác định được nguồn đầu vào có thể thu hồi, khách hàng sử dụng đầu ra và điều kiện bảo đảm hiệu quả kinh tế cùng lợi ích môi trường. Từ năm nhóm mô hình trọng tâm, bài viết đề xuất các giải pháp về tiêu chuẩn, thị trường, tài chính, công nghệ và tổ chức chuỗi thu hồi, gắn với lộ trình triển khai và các chỉ tiêu theo dõi kết quả, phù hợp năng lực doanh nghiệp.

Từ khóa: kinh tế tuần hoàn; công nghiệp môi trường; nguyên liệu thứ cấp; thu hồi năng lượng; cộng sinh công nghiệp; trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR).

Cơ hội phát triển từ nhu cầu thực hiện kinh tế tuần hoàn

Công nghiệp môi trường có vai trò trực tiếp trong thu gom, xử lý chất thải, tái chế, xử lý nước và kiểm soát ô nhiễm. Khi mô hình kinh tế tuần hoàn (KTTH) đặt ra yêu cầu tiết kiệm tài nguyên, kéo dài vòng đời sản phẩm và giảm chất thải vứt bỏ vào môi trường, phạm vi hoạt động của ngành công nghiệp môi trường mở rộng sang cung cấp nguyên liệu thứ cấp, tái sử dụng nước, thu hồi năng lượng và tổ chức các dịch vụ hỗ trợ tuần hoàn. Giá trị của doanh nghiệp công nghiệp môi trường vì vậy phụ thuộc ngày càng nhiều vào khả năng kết nối nguồn thải với nhu cầu sử dụng tài nguyên của các ngành kinh tế khác.

Sự phát triển của kinh tế tuần hoàn mở ra cơ hội để ngành công nghiệp môi trường Việt Nam cung cấp nguyên liệu thứ cấp, năng lượng và dịch vụ có giá trị cho nền kinh tế
Sự phát triển của kinh tế tuần hoàn mở ra cơ hội để ngành công nghiệp môi trường Việt Nam cung cấp nguyên liệu thứ cấp, năng lượng và dịch vụ có giá trị cho nền kinh tế

Tại Việt Nam, Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/01/2025 ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035 và Quyết định số 1894/QĐ-TTg ngày 04/9/2025 phê duyệt Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam giai đoạn 2025–2030 tạo cơ sở định hướng cho quá trình này [1, 2]. Trong năm 2026, khung pháp lý tiếp tục được cụ thể hóa ở những khâu then chốt như trách nhiệm tái chế của nhà sản xuất, tiêu chí xác định dự án tuần hoàn và kiểm kê khí nhà kính (cụ thể hơn ở các phần dưới đây). Vấn đề cần giải quyết ở cấp doanh nghiệp là chuyển định hướng thành những chuỗi cung ứng có thể vận hành, có khách hàng và có cơ chế phân bổ chi phí, lợi ích giữa các bên.

Một minh họa về dư địa thu hồi giá trị là nghiên cứu của IFC và Ngân hàng Thế giới công bố năm 2021. Theo đó, trong tổng khoảng 3,9 triệu tấn bốn loại nhựa thông dụng (PET, HDPE, LDPE và PP) được tiêu thụ hằng năm, chỉ khoảng 33% được thu hồi và tái chế; khoảng 75% giá trị vật liệu, tương đương 2,2–2,9 tỷ USD mỗi năm, bị mất đi [3]. Kết quả ước tính này cho thấy tổn thất tài nguyên có thể tạo ra cơ hội kinh doanh nếu giải quyết được khâu phân loại, chất lượng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ.

Lựa chọn mô hình theo hướng hiệu quả kinh tế và nhu cầu thị trường

Kinh tế tuần hoàn cần được tiếp cận từ cả thiết kế sản phẩm, tổ chức sản xuất và tiêu dùng. Bocken và cộng sự phân biệt ba hướng tác động tới dòng tài nguyên: thu hẹp thông qua sử dụng ít nguyên liệu hơn, làm chậm thông qua kéo dài thời gian sử dụng và khép kín thông qua đưa vật liệu trở lại sản xuất [4]. Cách tiếp cận này giúp tránh việc chỉ đánh giá mức độ tuần hoàn bằng khối lượng chất thải được xử lý.

Đối với công nghiệp môi trường, bảo trì thiết bị, tái sử dụng linh kiện, vận hành tiết kiệm nước và năng lượng cũng là các hoạt động cần ưu tiên. Thu hồi năng lượng phù hợp với những dòng chất thải còn lại sau khi xem xét khả năng giảm phát sinh, tái sử dụng và tái chế. Việc đốt chất thải tạo ra năng lượng không đồng nghĩa với duy trì vật liệu trong vòng tuần hoàn, cũng không tự động bảo đảm giảm phát thải khí nhà kính.

Bài viết đề xuất năm nhóm mô hình KTTH: tuần hoàn vật liệu, thu hồi năng lượng, cộng sinh công nghiệp, dịch vụ tuần hoàn và số hóa kinh tế tuần hoàn. Các nhóm có thể kết hợp trong cùng một chuỗi. Chẳng hạn, tái chế chai nhựa cần dịch vụ thu gom và truy xuất; đồng xử lý trong xi măng cần tiền xử lý nhiên liệu và hợp đồng giữa các doanh nghiệp; cộng sinh công nghiệp cần dữ liệu vật liệu – phế liệu và đơn vị điều phối.

Trước khi lựa chọn công nghệ, mỗi dự án cần trả lời ba câu hỏi. Dòng đầu vào nào thực sự có thể thu hồi với khối lượng và chất lượng ổn định? Ai mua sản phẩm, sử dụng tiện ích hoặc trả phí xử lý? Tổng chi phí vận hành và tác động môi trường có tốt hơn phương án hiện tại hay không? Đây là cơ sở để phân biệt một cơ hội kỹ thuật với một mô hình có thể hiệu quả về kinh tế.

Năm nhóm mô hình KTTH phù hợp với công nghiệp môi trường Việt Nam

1)Tuần hoàn vật liệu gắn với chất lượng nguyên liệu thứ cấp

Nhóm này bao gồm thu hồi và tái chế nhựa, giấy, kim loại, thiết bị điện tử và vật liệu xây dựng. Đầu vào có thể đến từ sản phẩm sau tiêu dùng, phế liệu sản xuất và chất thải được phân loại. Khách hàng đầu ra là doanh nghiệp bao bì, đồ uống, giấy, luyện kim, sản xuất linh kiện hoặc vật liệu xây dựng, tùy đặc tính và mức độ an toàn của vật liệu thu hồi.

Tái chế chai PET thành chai PET mới là một hướng ưu tiên do xác định được cả dòng thu hồi và nhóm người mua. Chai sau sử dụng được thu gom, phân loại, làm sạch và tái chế thành nhựa rPET phù hợp yêu cầu của ứng dụng tiếp xúc thực phẩm. Coca-Cola Việt Nam công bố ra mắt chai làm từ 100% nhựa PET tái chế vào tháng 9/2022, bắt đầu với chai 300 ml của hai sản phẩm Coca-Cola Original và Coca-Cola Zero Sugar, không bao gồm nắp và nhãn [5]. Trường hợp này minh họa nhu cầu sử dụng vật liệu tái chế trong bao bì, nhưng không có nghĩa toàn bộ chai PET thu gom đều đủ chất lượng để trở lại ứng dụng thực phẩm.

Hiệu quả kinh tế phụ thuộc vào tỷ lệ thu hồi hữu ích, độ sạch của nguyên liệu, chi phí rửa và xử lý nước thải, cùng giá bán đầu ra. Doanh nghiệp cần thống nhất trước với người mua về độ tinh khiết, màu sắc, tính chất cơ lý và chứng nhận cần thiết. Với chất thải xây dựng, chi phí vận chuyển và kiểm định theo mục đích sử dụng có thể quyết định khả năng tiêu thụ cốt liệu tái chế. Với thiết bị điện tử, việc thu hồi kim loại phải đi kèm quản lý an toàn các thành phần nguy hại.

Vì vậy, hỗ trợ tái chế nên ưu tiên nâng chất lượng và khả năng tiêu thụ nguyên liệu thứ cấp. Đầu tư thêm công suất trong khi nguồn thu gom bị lẫn tạp chất hoặc chưa có khách hàng ổn định có thể làm tăng tồn kho và chi phí xử lý. Lợi ích môi trường cần tính cả nước, điện, hóa chất và phần chất thải còn lại trong quá trình tái chế.

2)Thu hồi năng lượng từ các dòng chất thải phù hợp

Các hướng triển khai gồm sản xuất nhiên liệu từ chất thải, điện rác, sử dụng phụ phẩm sinh khối và khí sinh học. Nhiên liệu từ chất thải, thường gọi là RDF (Refuse-Derived Fuel), cần được phân loại và tiền xử lý để phù hợp với cơ sở sử dụng. Chất thải hữu cơ tách riêng có thể phù hợp với xử lý kỵ khí tạo khí sinh học; phụ phẩm nông nghiệp có thể cung cấp nhiên liệu sau khi xem xét độ ẩm, tính mùa vụ và các mục đích sử dụng hiện có.

Trong đồng xử lý chất thải ở lò xi măng, cơ sở sản xuất clinker là bên sử dụng nhiên liệu thay thế, còn chủ nguồn thải hoặc đơn vị quản lý chất thải có thể là bên trả phí xử lý. Hai dòng tiền này cần được phân biệt. Theo Hiệp hội Xi măng và Bê tông Toàn cầu (GCCA-Global Cement and Concrete Association), điều kiện giao dịch phụ thuộc chất lượng, nhiệt trị và mức sẵn có của nhiên liệu; phí tiếp nhận có thể thay đổi đáng kể theo thị trường [6]. Bởi vậy, không nên mặc định mọi loại chất thải đều được nhà máy xi măng mua lại.

Điều kiện kỹ thuật cần làm rõ từ đầu gồm nhiệt trị, độ ẩm, hàm lượng clo, kim loại nặng và độ ổn định của dòng cấp liệu. Phương án kinh tế phải tính chi phí tiền xử lý bao gồm chi phí phân loại, sấy, nghiền, vận chuyển, lưu kho và cải tạo hệ thống tiếp nhận. Khi đánh giá khả năng thay thế nhiên liệu, cần quy đổi theo năng lượng hữu ích. Tỷ lệ nhiên liệu thay thế tính theo khối lượng không tương đương tỷ lệ thay thế nhiệt năng, bởi các loại nhiên liệu có nhiệt trị khác nhau. Kết quả nghiên cứu về dòng vật chất ngành xi măng với số liệu năm 2024 cho thấy tỷ lệ nhiên liệu thay thế trong sản xuất clanhke của ngành xi măng Việt Nam đạt 21,1% theo khối lượng, chưa quy đổi theo nhiệt trị [7]; vì vậy, khi đặt mục tiêu hoặc so sánh giữa các nhà máy cần thống nhất phương pháp quy đổi. Đối với điện rác, nguồn thu có thể gồm tiền bán điện và phí dịch vụ xử lý theo hợp đồng. Với khí sinh học, giá trị có thể đến từ thay thế năng lượng mua ngoài hoặc cung cấp năng lượng cho khách hàng phù hợp. Dù theo hướng nào, dự án cần chứng minh khả năng kiểm soát khí thải, nước thải, tro xỉ hoặc phần còn lại sau xử lý. Việc giảm phát thải phải được so sánh với phương án cơ sở, xét cả thành phần carbon hóa thạch của chất thải và năng lượng tiêu hao trong chuỗi.

3) Cộng sinh công nghiệp trên cơ sở trao đổi có hợp đồng

Cộng sinh công nghiệp kết nối các doanh nghiệp để sử dụng phụ phẩm, nước sau xử lý, nhiệt dư hoặc hạ tầng chung. Ví dụ có thể là sử dụng tro, xỉ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật trong vật liệu xây dựng; cấp nước tái sử dụng cho công đoạn sản xuất phù hợp; hoặc thu hồi nhiệt cho sấy nguyên liệu. Doanh nghiệp công nghiệp môi trường có thể cung cấp công nghệ xử lý trung gian, vận hành hệ thống dùng chung và kiểm định chất lượng dòng trao đổi.

Kinh nghiệm tại Việt Nam cho thấy cần phân biệt kết quả nâng hiệu quả sản xuất với tiềm năng của các trao đổi cộng sinh. UNIDO công bố năm 2020 rằng dự án kết thúc tháng 6/2019 đã thực hiện 546 giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn tại 57 doanh nghiệp, tạo mức tiết kiệm khoảng 2,9 triệu euro mỗi năm. Riêng 18 cơ hội cộng sinh được nghiên cứu có tiềm năng giảm khoảng 70,5 nghìn tấn CO₂ mỗi năm nếu toàn bộ được triển khai, với thời gian hoàn vốn từ ba tháng đến tám năm; đến cuối dự án, 12 cơ hội đã được thực hiện, đang thực hiện hoặc nằm trong kế hoạch [8].

Khách hàng của mô hình là những doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng tài nguyên phù hợp và đủ gần về khoảng cách địa lý để chi phí kết nối chấp nhận được. Một dòng nhiệt dư có giá trị chỉ khi có bên cần nhiệt ở nhiệt độ và thời điểm tương thích. Nước sau xử lý chỉ được tái sử dụng khi đáp ứng yêu cầu của công đoạn tiếp nhận. Hợp đồng phải quy định chất lượng, sản lượng, giá, trách nhiệm khi gián đoạn và phương án cung ứng dự phòng.

Bước khởi đầu phù hợp là lập bản đồ dòng vật chất, nước và năng lượng tại khu, cụm công nghiệp; chọn một số trao đổi có khách hàng rõ ràng để thử nghiệm. Đơn vị phát triển hạ tầng hoặc một tổ chức trung gian cần đảm nhiệm điều phối. Mục tiêu là tạo giao dịch và tiết kiệm thực tế, thay vì chỉ lập danh sách các dòng chất thải có thể kết nối về mặt lý thuyết.

4)Dịch vụ tuần hoàn hỗ trợ thu hồi và chứng minh kết quả

Nhóm dịch vụ gồm logistics ngược, thu gom theo dòng, bảo trì và sửa chữa, tổ chức tái chế, tư vấn thiết kế dễ thu hồi, kiểm kê phát thải và đo lường kết quả môi trường. Người mua dịch vụ có thể là nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu tái chế, cơ sở công nghiệp hoặc địa phương có nhu cầu quản lý chất thải.

Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, thường gọi là EPR, tạo nhu cầu tổ chức thu hồi và tái chế có minh chứng. Nghị định số 110/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 25/5/2026, quy định chi tiết tỷ lệ và quy cách tái chế bắt buộc đối với các nhóm sản phẩm, bao bì thuộc đối tượng áp dụng, đồng thời cho phép đơn vị tái chế hoặc tổ chức thực hiện trách nhiệm tái chế đề nghị hỗ trợ kinh phí theo khối lượng đã tái chế đạt chuẩn [9]. Một ví dụ là thông tin PRO Việt Nam công bố năm 2025 về kết quả thu gom và tái chế hơn 64.000 tấn bao bì trong năm 2024 [10]. Giá trị đáng chú ý của mô hình liên kết nằm ở khả năng phối hợp nhiều chủ thể và tập hợp dòng thu hồi. Ở khâu thu gom đô thị, URENCO đang thí điểm mạng lưới 100 điểm phân loại và thu hồi vật liệu tái chế tại khu vực từ Vành đai 2 vào trung tâm Hà Nội từ tháng 9/2026 [11]; điều cần theo dõi là khối lượng thu hồi ổn định và chất lượng vật liệu sau khi chiến dịch truyền thông kết thúc.

Để dịch vụ phát triển bền vững, hợp đồng cần xác định rõ khối lượng được chấp nhận, kết quả xử lý, hồ sơ giao nhận và trách nhiệm khi phát hiện sai lệch. Việc cân đo và đối chiếu dữ liệu phải hạn chế ghi nhận trùng giữa đơn vị thu gom, trung gian và cơ sở tái chế. Dịch vụ đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải cần có năng lực chuyên môn, dữ liệu kiểm chứng được và cơ chế xử lý xung đột lợi ích. Nhu cầu đối với nhóm dịch vụ này có thể tăng lên khi Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg cập nhật danh mục 2.441 cơ sở phải kiểm kê khí nhà kính, có hiệu lực từ ngày 25/9/2026, tăng 275 cơ sở so với danh mục ban hành năm 2024 [12].

Đối với doanh nghiệp công nghiệp môi trường nhỏ và vừa, cung cấp một dịch vụ chuyên sâu có thể là hướng tham gia phù hợp hơn việc đầu tư ngay toàn bộ nhà máy. Tuy nhiên, dịch vụ tư vấn hoặc báo cáo chỉ tạo đóng góp cho tuần hoàn khi hỗ trợ thay đổi vận hành, tăng thu hồi tài nguyên hoặc kiểm soát tác động môi trường.

5) Số hóa để giảm chi phí giao dịch và nâng độ tin cậy

Số hóa hỗ trợ bốn nhóm mô hình trên thông qua dữ liệu về loại vật liệu, khối lượng, chất lượng, vị trí, lịch phát sinh và lịch sử giao nhận. Đầu ra của mô hình có thể là dịch vụ truy xuất lô vật liệu, tối ưu tuyến thu gom, quản lý cơ sở tái chế hoặc kết nối cung cầu. Khách hàng trả phí là những doanh nghiệp hoặc đơn vị quản lý có lợi ích đủ rõ từ giảm chi phí vận hành, giảm rủi ro và cải thiện dữ liệu.

Một nền tảng kết nối chỉ hữu ích khi thông tin hàng hóa có thể kiểm chứng và giao dịch được thực hiện ngoài hiện trường. Các chức năng tối thiểu nên gồm định danh lô, phiếu cân, kết quả kiểm tra chất lượng, xác nhận giao nhận và phân quyền sử dụng dữ liệu. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ phân loại hoặc dự báo khi đã có dữ liệu đủ tốt; việc đầu tư cần dựa trên hiệu quả vận hành cụ thể.

Mô hình kinh doanh có thể lựa chọn thu phí phần mềm, phí giao dịch hoặc dịch vụ quản lý dữ liệu, nhưng phải xác định rõ bên trả tiền. Trong giai đoạn đầu, nên thí điểm với một dòng vật liệu và một mạng lưới khách hàng, kiểm chứng số giao dịch hoàn tất và chi phí tiết kiệm trước khi mở rộng. Tránh coi số tài khoản đăng ký hoặc lượng thông tin đưa lên hệ thống là bằng chứng đủ về hiệu quả tuần hoàn.

Các giải pháp phát triển và tổ chức thực hiện các mô hình đề xuất

·Hoàn thiện tiêu chuẩn và điều kiện chuyển giao

Cần ưu tiên hướng dẫn rõ điều kiện chuyển giao và sử dụng chất thải, phụ phẩm, nguyên liệu thứ cấp theo từng dòng và từng mục đích. Bộ tiêu chí chất lượng cần giúp bên mua đánh giá được độ ổn định, an toàn và khả năng thay thế nguyên liệu hiện có. Việc gọi một dòng chất thải là tài nguyên không làm mất đi nghĩa vụ kiểm soát môi trường trong thu gom, vận chuyển và xử lý. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đồng xử lý chất thải trong lò nung xi măng (QCVN 41:2025/BNNMT), có hiệu lực từ ngày 9/2/2026, là một bước theo hướng này đối với dòng nhiên liệu thay thế [13]; việc mở rộng cách tiếp cận sang các dòng nguyên liệu thứ cấp khác, như nhựa tái chế, tro xỉ hoặc nước tái sử dụng, cần được rà soát theo từng dòng.

Đối với cơ chế EPR, sau khi Nghị định số 110/2026/NĐ-CP có hiệu lực [9], trọng tâm thực thi là khả năng đối chiếu khối lượng và kết quả tái chế, kiểm soát ghi nhận trùng, đồng thời tạo điều kiện cho mạng lưới thu gom tham gia. Đối với cộng sinh công nghiệp, cần các hướng dẫn và hợp đồng mẫu về chất lượng đầu vào, trách nhiệm môi trường, chia sẻ tiện ích và giải quyết tranh chấp. Những hỗ trợ này giảm chi phí giao dịch trực tiếp cho doanh nghiệp.

·Phát triển thị trường đầu ra phù hợp với công suất

Doanh nghiệp tái chế cần làm việc với khách hàng sử dụng nguyên liệu ngay từ bước thiết kế dự án. Thử nghiệm sản phẩm, xác nhận thông số và ký thỏa thuận tiêu thụ giúp lựa chọn đúng công nghệ, quy mô và vùng thu gom. Hợp đồng nên quy định cách điều chỉnh giá khi nguyên liệu nguyên sinh biến động và cơ chế xử lý lô hàng không đạt yêu cầu.

Mua sắm công và chi trả nguyên nhiên liệu của doanh nghiệp có thể tạo nhu cầu cho sản phẩm đáp ứng tiêu chí về độ bền, khả năng sửa chữa, hàm lượng tái chế hoặc chi phí vòng đời. Các tiêu chí cần phù hợp công năng và có cách kiểm chứng. Ưu tiên sản phẩm chỉ vì có nhãn tuần hoàn nhưng chất lượng thấp hoặc tuổi thọ ngắn có thể làm tăng tiêu hao tài nguyên về dài hạn.

·Bố trí tài chính theo dòng tiền và rủi ro của dự án

Hồ sơ đầu tư cần chứng minh nguồn cung, đầu ra, công nghệ, chi phí xử lý phần còn lại và khả năng vận hành ở các mức công suất. Vốn vay dài hạn, vốn chủ sở hữu hoặc cơ chế hợp tác công tư cần được lựa chọn theo đặc điểm dự án. Hỗ trợ từ nguồn ngân sách công có thể ưu tiên khảo sát dòng vật liệu, thử nghiệm công nghệ, kiểm định sản phẩm và chuẩn bị hợp đồng, qua đó giảm bất định trước khi đầu tư lớn. Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg, có hiệu lực từ ngày 01/11/2026, quy định việc xác định dự án xanh và dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn (trong đó có dự án sử dụng tuần hoàn, phục hồi tài nguyên, cộng sinh công nghiệp và liên kết tuần hoàn) thông qua tổ chức đánh giá độc lập [14]. Đây có thể là căn cứ để chủ đầu tư và tổ chức tín dụng đánh giá dự án, với điều kiện hồ sơ có số liệu đầu vào, đầu ra và tác động môi trường kiểm chứng được.

Doanh thu từ tín chỉ carbon chỉ nên đưa vào phương án khi xác định được phương pháp áp dụng, điều kiện chứng nhận, quyền sở hữu và khả năng giao dịch. Giảm phát thải ước tính chưa đồng nghĩa với tín chỉ có thể bán. Mỗi dự án cần có kịch bản không nhận doanh thu carbon và kịch bản biến động giá nguyên liệu, năng lượng, phí dịch vụ để đánh giá sức chịu đựng tài chính. Theo Đề án thành lập và phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam, giai đoạn thí điểm kéo dài từ năm 2025 đến hết năm 2028 và thị trường vận hành chính thức từ năm 2029 [15]; vì vậy, trong giai đoạn đầu, doanh thu carbon nên được xem là nguồn thu bổ sung chưa chắc chắn.

·Đồng bộ công nghệ với hạ tầng thu hồi

Lựa chọn thiết bị cần dựa trên thử nghiệm với dòng nguyên liệu thực tế tại Việt Nam. Hợp đồng chuyển giao nên bao gồm đào tạo vận hành, bảo trì, cung ứng phụ tùng và chỉ tiêu chất lượng đầu ra. Liên kết viện, trường với doanh nghiệp cần tập trung vào những điểm nghẽn cụ thể như làm sạch nhựa, nâng chất lượng nhiên liệu từ chất thải, tái sử dụng nước và xử lý thành phần nguy hại.

Hạ tầng phân loại, lưu kho và vận chuyển phải đồng bộ với công nghệ. Vật liệu đã phân loại tại nguồn cần được thu gom riêng, tránh trộn lại. Vị trí trung tâm phân loại nên được lựa chọn trên cơ sở mật độ nguồn phát sinh, khoảng cách tới khách hàng và chi phí logistics. Các khu công nghiệp có thể thử nghiệm dùng chung hệ thống kiểm định, xử lý nước hoặc tiện ích khi có nhu cầu đủ ổn định.

·Nâng năng lực và gắn kết lực lượng thu gom

Nội dung đào tạo cần kết hợp kỹ thuật vận hành với quản trị hợp đồng, phân tích chi phí và quản lý dữ liệu. Lực lượng thu gom hiện hữu (thường là thuộc khu vực phi chính thức) cần được tham gia các hoạt động chính thức thông qua tổ nhóm, hợp tác xã hoặc hợp đồng với doanh nghiệp, cùng cơ chế thanh toán minh bạch và điều kiện lao động phù hợp. Thiết bị bảo hộ, công cụ cân đo và ứng dụng ghi nhận đơn giản thường có giá trị thực tiễn hơn một hệ thống quản lý phức tạp mà người thu gom khó sử dụng.

Trong tổ chức thực hiện, đề xuất Bộ Công Thương, trên cơ sở Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường [2] và Kế hoạch hành động thực hiện kinh tế tuần hoàn trong ngành Công Thương đến năm 2035 [16], phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các bộ, ngành theo chức năng để thúc đẩy thị trường, công nghệ và liên kết chuỗi công nghiệp. Địa phương và đơn vị hạ tầng tổ chức thí điểm tại địa bàn; doanh nghiệp chịu trách nhiệm đầu tư, hợp đồng và vận hành. Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam có thể tổng hợp nhu cầu, kết nối đối tác, đào tạo và phản ánh vướng mắc chính sách. Viện, trường và đối tác quốc tế hỗ trợ nghiên cứu, thử nghiệm và đánh giá độc lập.

Kết luận

Năm nhóm mô hình tạo ra các cách tham gia khác nhau cho doanh nghiệp công nghiệp môi trường Việt Nam, từ cung cấp nguyên liệu thứ cấp và năng lượng đến vận hành hạ tầng, tổ chức thu hồi và quản lý dữ liệu. Khả năng phát triển phụ thuộc vào việc kết nối được nguồn đầu vào đạt yêu cầu với khách hàng thực, có hợp đồng và kiểm soát tác động môi trường trên toàn chuỗi.

Từ nay đến năm 2030, nên ưu tiên những chuỗi đã có nhu cầu đầu ra tương đối rõ, chẳng hạn nhựa tái chế đạt yêu cầu của khách hàng, nhiên liệu thay thế đáp ứng thông số tiếp nhận, tái sử dụng nước và trao đổi phụ phẩm tại các khu công nghiệp có điều kiện phù hợp. Lựa chọn các mô hình kinh tế tuần hoàn cụ thể cần dựa trên khảo sát từng địa bàn. Đô thị có thể tập trung vào bao bì và dịch vụ thu hồi; vùng công nghiệp vào cộng sinh và tái sử dụng nước; vùng chế biến nông sản vào phụ phẩm và chất hữu cơ đã phân loại.

Sau năm 2030, việc mở rộng tới các mạng lưới liên khu công nghiệp hoặc liên vùng nên dựa trên kết quả vận hành đã kiểm chứng. Mỗi mô hình chỉ nên nhân rộng khi đã chứng minh được giá trị tài nguyên giữ lại, dòng tiền vận hành và lợi ích môi trường. Quy mô đầu tư và mốc triển khai cần được cập nhật theo diễn biến thị trường, công nghệ và năng lực quản lý thực tế. Cách triển khai này giúp nguồn lực đầu tư đi vào những hoạt động có thể duy trì, đồng thời tăng đóng góp của công nghiệp môi trường cho chuyển đổi kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

[1] Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/01/2025 ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035.

https://congbao.chinhphu.vn/van-ban/quyet-dinh-so-222-qd-ttg-44049.htm

[2] Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 1894/QĐ-TTg ngày 04/9/2025 phê duyệt Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam giai đoạn 2025–2030.

https://vanban.chinhphu.vn/?docid=215139&pageid=27160

[3] IFC & World Bank (2021). Market Study for Vietnam – Plastics Circularity Opportunities and Barriers. Công bố ngày 29/9/2021; thông tin tóm lược trong thông cáo báo chí của IFC (liên kết thứ nhất) và trang công bố báo cáo của Ngân hàng Thế giới (liên kết thứ hai).https://www.ifc.org/en/pressroom/2021/managing-plastic-as-a-valuable-resource-will-help-address-marine-pollution-promote-a-circular-economy-in-vietnam-world-bank-group-report

https://worldbank.org/en/country/vietnam/publication/market-study-for-vietnam-plastics-circularity-opportunities-and-barriers

[4] Bocken, N. M. P., de Pauw, I., Bakker, C., & van der Grinten, B. (2016). Product design and business model strategies for a circular economy. Journal of Industrial and Production Engineering, 33(5), 308–320.

https://doi.org/10.1080/21681015.2016.1172124

[5] Coca-Cola Việt Nam (2022). Coca-Cola Việt Nam ra mắt chai Coca-Cola làm từ 100% nhựa tái chế trên toàn quốc. Công bố ngày 28/9/2022; tỷ lệ công bố không bao gồm nắp và nhãn.

https://www.coca-cola.com/vn/vi/media-center/coca-cola-viet-nam-ra-mat-chai-coca-cola-lam-tu-100-nhua-tai-che-tren-toan-quoc

[6] Global Cement and Concrete Association (GCCA). Questions and Answers related to co-processing.

https://gccassociation.org/co-processing/co-processing-qa/

[7] Lương Đức Long, Cao Thị Tú Mai, Trịnh Thị Châm (2025). Hiện trạng sản xuất, tiêu thụ tài nguyên và tiềm năng tiết kiệm tài nguyên, tái sử dụng phế thải, thực hiện kinh tế tuần hoàn ngành công nghiệp xi măng Việt Nam. Tạp chí Vật liệu và Xây dựng. Phát hành ngày 28/4/2025.

https://vjol.info.vn/tcvienvatlieu/article/view/117225

[8] UNIDO (2020). Fostering eco-industrial parks in Viet Nam. Công bố ngày 24/01/2020.https://www.unido.org/stories/fostering-eco-industrial-parks-viet-nam

[9] Chính phủ (2026). Nghị định số 110/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu; có hiệu lực từ ngày 25/5/2026.

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Xuat-nhap-khau/Decree-110-2026-ND-CP-elaboration-of-Law-on-Environmental-Protection-packaging-recycling-responsibility-702140.aspx

[10] PRO Việt Nam (2025). Doanh nghiệp kiến tạo tương lai xanh: PRO Việt Nam tiên phong tái chế. Bài phỏng vấn đăng ngày 13/11/2025.https://provietnam.com.vn/tin-pro-viet-nam/doanh-nghiep-kien-tao-tuong-lai-xanh-pro-viet-nam-tien-phong-tai-che/

[11] Viet Nam News (2026). Hà Nội seeks to retain value in waste. Bài đăng ngày 22/9/2026.

https://vietnamnews.vn/society/1800244/ha-noi-seeks-to-retain-value-in-waste.html

[12] Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg ban hành Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật); có hiệu lực từ ngày 25/9/2026.

https://baodauthau.vn/2441-co-so-phat-thai-khi-nha-kinh-phai-thuc-hien-kiem-ke-post204846.html

[13] Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Thông tư số 46/2025/TT-BNNMT ngày 06/8/2025 ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đồng xử lý chất thải trong lò nung xi măng (QCVN 41:2025/BNNMT).

https://luatvietnam.vn/tai-nguyen/thong-tu-46-2025-tt-bnnmt-cua-bo-nong-nghiep-va-moi-truong-ban-hanh-quy-chuan-ky-thuat-quoc-gia-ve-dong-xu-ly-chat-thai-trong-lo-nung-xi-mang-407682-d1.html

[14] Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg ngày 17/9/2026 hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG); có hiệu lực từ ngày 01/11/2026.

https://tapchicongthuong.vn/du-an-xanh--du-an-tuan-hoan--co-so-tiep-can-tin-dung-xanh-va-cac-chinh-sach-ho-tro-555424.htm

[15] Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24/01/2025 phê duyệt Đề án Thành lập và phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam.

https://binhdinh.gov.vn/upload/2005340/20250212/232_QD-TTg_24012025_2-signed_a209d.pdf

[16] Bộ Công Thương (2025). Quyết định số 3187/QĐ-BCT ngày 29/10/2025 ban hành Kế hoạch hành động thực hiện kinh tế tuần hoàn trong ngành Công Thương đến năm 2035.

https://moit.gov.vn/van-ban-phap-luat/van-ban-dieu-hanh/quyet-dinh-so-3187-qd-bct-ban-hanh-ke-hoach-hanh-dong-thuc-hien-kinh-te-tuan-hoan-trong-nganh-cong-thuong-den-nam-2035.html

Xin chờ trong giây lát...

TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT

Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.

Phiên bản di động