Ngành nhiệt điện Việt Nam trước thách thức: Bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và lộ trình chuyển dịch phát thải thấp
![]() |
Nhà máy nhiệt điện – nguồn điện nền góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. |
1. Nhiệt điện Việt Nam trước áp lực kép: An ninh năng lượng và giảm phát thải
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng trở thành thách thức toàn cầu, Việt Nam đã cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050; để thực hiện mục tiêu này, việc hình thành và vận hành thị trường các-bon trong nước là xu thế tất yếu. Trong đó, lĩnh vực nhiệt điện giữ vai trò đặc biệt quan trọng khi vừa là nguồn cung điện nền bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, vừa là lĩnh vực phát thải lớn, chiếm khoảng 55,8% tổng phát thải khí nhà kính của cả nước năm 2022 [1]. Vì vậy, quá trình chuyển dịch phát thải thấp của lĩnh vực nhiệt điện không chỉ xuất phát từ yêu cầu thực hiện cam kết khí hậu mà còn gắn trực tiếp với bài toán an ninh năng lượng và hiệu quả vận hành hệ thống điện quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng giai đoạn 2019-2030.
Theo Quy hoạch điện VIII sửa đổi, điện khí LNG được định hướng chiếm khoảng 9,5–12,3% tổng công suất nguồn điện vào năm 2030 [2] nhằm bù đắp sự suy giảm của nguồn khí nội địa, trong bối cảnh tiềm năng thủy điện lớn gần như đã khai thác hết và Việt Nam hạn chế phát triển mới các dự án nhiệt điện than để thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, quá trình phát triển điện khí LNG đang đối mặt với nhiều thách thức do giá LNG và khí tự nhiên biến động mạnh dưới tác động của rủi ro địa chính trị và bất ổn nguồn cung toàn cầu[2]. Bên cạnh đó, các dự án điện khí LNG đòi hỏi hệ thống hạ tầng đồng bộ gồm kho cảng nhập khí, bồn chứa, nhà máy tái hóa khí, đường ống và trạm cấp khí với chi phí đầu tư rất lớn và thời gian triển khai kéo dài. Những yếu tố này làm gia tăng rủi ro đầu tư và khiến nhiều dự án LNG chậm tiến độ, dẫn tới nguy cơ khó đạt mục tiêu phát triển điện khí LNG theo Quy hoạch điện VIII sửa đổi vào năm 2030. Vì vậy, nhiệt điện than vẫn sẽ tiếp tục giữ vai trò “trụ cột bảo đảm an ninh điện” của Việt Nam ít nhất đến hết thập niên 2030.
Do đó, việc thí điểm áp dụng hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho lĩnh vực nhiệt điện là bước đi cần thiết nhằm giúp doanh nghiệp từng bước thích ứng với các cơ chế định giá các-bon quốc tế. Tuy nhiên, trong điều kiện ngành điện vẫn phải bảo đảm an ninh cung cấp điện với nhu cầu phụ tải tiếp tục tăng cao phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2026-2030, việc tổ chức phân bổ hạn ngạch cần triển khai thận trọng và có lộ trình phù hợp với đặc thù công nghệ của từng nhà máy và điều kiện quốc gia.
2. Vai trò chuyển tiếp của nhiệt điện trong lộ trình Net Zero
Trong giai đoạn 2022–2025, nhiệt điện than liên tục cung cấp khoảng 40% đến 50% tổng sản lượng điện toàn hệ thống; Bên cạnh đó nhiệt điện khí cung cấp khoảng 6-11% tổng sản lượng điện. Dự báo trong giai đoạn 2026-2030, sản lượng điện từ các nhà máy nhiệt điện tiếp tục giữ vai trò then chốt trong việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cũng như duy trì ổn định hệ thống điện trong giai đoạn chuyển dịch năng lượng hiện nay [3].
| Năm | Sản lượng điện toàn hệ thống (tỷ kWh) | Nhiệt điện than (tỷ kWh) | Tỷ trọng nhiệt điện than (%) | Nhiệt điện khí (tỷ kWh) | Tỷ trọng nhiệt điện khí (%) |
| 2022 | 268,4 | 104,9 | 39,1 | 29,6 | 11,0 |
| 2023 | 280,6 | 129,8 | 46,2 | 26,4 | 9,4 |
| 2024 | 308,7 | 152,8 | 49,5 | 21,8 | 7,0 |
| 2025 | 322,8 | ~146,0 | ~46,0 | ~20,0 | ~6,2 |
Vai trò của nhiệt điện than và nhiệt điện khí trong hệ thống điện Việt Nam giai đoạn 2022–2025 .
Trong bối cảnh hệ thống điện Việt Nam ngày càng tích hợp nhiều nguồn năng lượng tái tạo có tính bất định cao, các nhà máy nhiệt điện buộc phải chuyển đổi theo hướng vận hành linh hoạt hơn: vừa duy trì vai trò cung ứng điện nền, vừa đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường ngày càng nghiêm ngặt, trong đó có việc tuân thủ các quy định về giảm phát thải khí nhà kính như các hoạt động kiểm kê, đo đạc, báo cáo, thẩm định và hạn ngạch phát thải khí nhà kính tạo ra thách thức cho các nhà máy nhiệt điện ở Việt Nam.
3. Biến động nhiên liệu và thay đổi chế độ vận hành nhiệt điện
Để đảm bảo nhiệt điện than liên tục cung cấp khoảng 40-50% tổng sản lượng điện toàn hệ thống, lượng than tiêu thụ ngành điện khoảng 70 triệu tấn mỗi năm; Trong đó, năm 2024 than nhập khẩu chiếm xấp xỉ 63,8 triệu tấn các loại cho nhu cầu than cả nước và tỷ lệ này được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng trong giai đoạn 2026–2030 khi các nhà máy nhiệt điện than mới đi vào vận hành [4].
Trong khi đó, xu hướng suy giảm nguồn nhiên liệu hóa thạch kết hợp với các biến động địa chính trị toàn cầu đã khiến giá nhiên liệu đầu vào cho phát điện tăng mạnh và khó dự báo; Giai đoạn 2021–2022, giá than nhiệt Newcastle từng vượt mốc 400 USD/tấn; đến năm 2025 vẫn cao hơn khoảng 17% so với mức trung bình trước đại dịch Covid-19 [5]. Đồng thời, giá LNG và khí tự nhiên tiếp tục biến động mạnh do rủi ro nguồn cung và xung đột địa chính trị toàn cầu. Điều này tạo áp lực lớn lên chi phí sản xuất điện, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang từng bước gia tăng tỷ trọng điện khí LNG theo Quy hoạch điện VIII sửa đổi [2].
Các nhà máy nhiệt điện hiện không chỉ chịu áp lực về giá nhiên liệu mà còn phải đối mặt với sự thay đổi đáng kể về đặc tính nhiên liệu (nhiệt trị, độ ẩm, độ tro, điểm bắt lửa…) so với thiết kế ban đầu, do bắt buộc phải đốt trộn than antraxit của Việt Nam với than nhập khẩu; điều kiện thời tiết cực đoan hạn chế rất lớn tới khả năng phát điện của tổ máy; sau nhiều năm vận hành, đặc tính làm việc của lò hơi, tua-bin và các hệ thống phụ trợ cũng thay đổi đáng kể. Bên cạnh đó, khi tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng cao, các nhà máy nhiệt điện thường xuyên phải vận hành ở chế độ thay đổi tải liên tục hoặc chạy thấp tải để bảo đảm an toàn và ổn định hệ thống điện quốc gia. Việc vận hành ngoài vùng tối ưu thiết kế làm suy giảm hiệu suất nhiệt, gia tăng suất tiêu hao nhiên liệu và kéo theo tăng cường độ phát thải khí nhà kính trên mỗi kWh điện sản xuất.
Một số nhà máy nhiệt điện khí như Nhơn Trạch 1, Phú Mỹ 2.1 hay Phú Mỹ 4 có thời điểm số giờ vận hành dưới 1.500 giờ/năm do suy giảm nguồn khí nội địa và biến động giá LNG. Trong khi đó, nhiều nhà máy nhiệt điện than như Mông Dương 2, Mạo Khê hay Cao Ngạn vẫn phải duy trì vận hành ở mức 6.000–7.000 giờ/năm nhằm bảo đảm an ninh cung cấp điện quốc gia.
4. Đặc thù công nghệ và tính phức tạp của phát thải nhiệt điện
Ngành nhiệt điện Việt Nam hiện nay là một bức tranh đa dạng về công nghệ, lò tầng sôi tuần hoàn (CFB), Lò than phun thông số dưới tới hạn đến các nhà máy siêu tới hạn (USC) và nhiệt điện khí chu trình hỗn hợp hiện đại; Mỗi loại hình công nghệ có đặc điểm vận hành và cường độ phát thải khác nhau.
Trong khi nhiệt điện than có mức phát thải CO₂ cao nhưng lại duy trì ổn định chu trình nhiệt, nhiệt điện khí có mức phát thải thấp hơn song yêu cầu về an toàn cháy nổ rất nghiêm ngặt. Vì vậy, việc áp dụng một cơ chế hạn ngạch phát thải chung cho toàn ngành chưa thật hợp lý, đòi hỏi phải xem xét đầy đủ đặc tính công nghệ và điều kiện vận hành thực tế của từng loại hình công nghệ nhà máy.
Thách thức lớn nhất hiện nay là bảo đảm sự công bằng giữa các nhà máy cũ hiệu suất thấp đã vận hành nhiều thập kỷ với các nhà máy mới sử dụng công nghệ hiện đại hiệu suất cao. Nhiều nhà máy cũ đã chủ động thực hiện các giải pháp cải tạo kỹ thuật, nâng cấp tua-bin, tối ưu hóa quá trình cháy và nâng cao hiệu suất lò hơi để giảm phát thải; tuy nhiên, chính các nhà máy này lại có dư địa giảm phát thải ngắn hạn khá hạn chế do công suất không lớn.
Bên cạnh đó, việc tính toán hạn ngạch phát thải cần xét đến vai trò điều tiết của nhiệt điện trong hệ thống điện quốc gia; khi năng lượng tái tạo chiếm tỷ trọng lớn với tính bất định cao, các tổ máy nhiệt điện thường xuyên phải thay đổi công suất hoặc chạy thấp tải để duy trì ổn định lưới điện. Điều này làm hiệu suất nhiệt suy giảm đáng kể và làm tăng cường độ phát thải trên mỗi đơn vị điện năng.
Vì vậy Hội Khoa học kỹ thuật Nhiệt Việt Nam kiến nghị cơ chế phân bổ hạn ngạch cần ghi nhận đầy đủ:
5. Thí điểm hạn ngạch phát thải: Đồng hành cùng doanh nghiệp nhiệt điện
Hội Kỹ thuật Nhiệt Việt Nam đánh giá cao sự thận trọng trong quá trình xây dựng dự thảo Quyết định phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho giai đoạn 2025–2026. Việc tổ chức khảo sát thực tế, tham vấn doanh nghiệp và phối hợp giữa các Bộ ngành cho thấy cơ quan quản lý đã tiếp cận vấn đề theo hướng thực tiễn và có xem xét đặc thù kỹ thuật của ngành nhiệt điện.
Đặc biệt, trong giai đoạn thí điểm hiện nay, việc chưa áp dụng cơ chế đấu giá hạn ngạch hay các chế tài tài chính mạnh là định hướng phù hợp. Đây là giai đoạn giúp doanh nghiệp làm quen với hệ thống kiểm kê, báo cáo và quản trị phát thải khí nhà kính; đồng thời tạo điều kiện để các nhà máy tập trung vào nâng cao hiệu suất và tối ưu vận hành thay vì chịu áp lực chi phí ngay lập tức.
Mức giảm phát thải dự kiến khoảng 1,6–2,0% đối với lĩnh vực nhiệt điện hiện nay [6] về cơ bản tương đương với tiềm năng tiết kiệm năng lượng thông qua các giải pháp tối ưu vận hành và cải tiến kỹ thuật nội vi. Vì vậy, mục tiêu của giai đoạn đầu không phải là hạn chế sản lượng điện mà là thúc đẩy doanh nghiệp: giảm suất tiêu hao nhiên liệu; nâng cao hiệu suất tổ máy; tối ưu hóa chế độ vận hành và từng bước nâng cao năng lực tham gia thị trường các-bon trong tương lai.
6. Những thách thức trong kiểm kê và quản trị phát thải
Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay là hệ thống dữ liệu phát thải lịch sử chưa đầy đủ và thiếu tính đồng bộ. Các cơ sở phát thải khí nhà kính mới bắt đầu thực hiện kiểm kê cấp cơ sở từ năm 2025 theo quy định [7], trong khi dữ liệu giai đoạn 2022–2023 chủ yếu dựa trên báo cáo hoạt động và chưa được thẩm định độc lập đầy đủ.
Đối với lĩnh vực nhiệt điện, việc xác định phát thải không thể chỉ dựa trên lượng nhiên liệu tiêu thụ mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố kỹ thuật như: chất lượng nhiên liệu thực tế; chế độ vận hành thấp tải;thay đổi tải liên tục; điều kiện làm mát; hiệu suất lò hơi và tua-bin sau nhiều năm vận hành.
Ngoài ra, việc bóc tách và định lượng các nguồn phát thải không thường xuyên như khởi động lò, dừng tổ máy vẫn còn là thách thức lớn về kỹ thuật và đo lường. Do đó, ngành nhiệt điện đang rất cần:hệ thống MRV đồng bộ; hướng dẫn kỹ thuật chi tiết theo từng loại công nghệ; tăng cường năng lực thẩm định; đào tạo nguồn nhân lực chuyên trách về kiểm kê khí nhà kính.
7. Kiến nghị lộ trình phối hợp và chuyển dịch bền vững
Để lộ trình phân bổ hạn ngạch thực sự trở thành động lực cho chuyển dịch năng lượng bền vững, Hội Khoa học Kỹ thuật Nhiệt Việt Nam kiến nghị Chính phủ và các Bộ ngành tập trung vào một số giải pháp trọng tâm sau:
* Xây dựng hệ thống báo cáo khí nhà kính trực tuyến đồng bộ nhằm tối ưu quy trình kê khai, thẩm định và giám sát phát thải;
* Việc tổ chức các quy định về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và vận hành thị trường các-bon cần có lộ trình phù hợp với điều kiện của từng ngành và điều kiện quốc gia;
* Việc phân bổ hạn ngạch cần thực hiện thận trọng đảm bảo tính khả thi, có xem xét đến đặc thù công nghệ và điều kiện vận hành thực tế cho từng nhà máy hoặc nhóm nhà máy có cùng công nghệ, cơ chế điều chỉnh hạn ngạch khi sản lượng điện thực tế thay đổi lớn do yêu cầu điều độ hệ thống điện quốc gia;
* Có cơ chế ưu tiên, hỗ trợ cho các nhà máy thực hiện đồng đốt sinh khối, amoniac hoặc cải tiến công nghệ nhằm giảm phát thải và duy trì vận hành các tổ máy hiện hữu trong giai đoạn chuyển đổi;
* Xem xét kéo dài thời gian thí điểm phân bổ hạn ngạch đến năm 2030 để doanh nghiệp có đủ thời gian nâng cao năng lực, sẵn sàng về cơ sở dữ liệu để đảm bảo việc tuân thủ hạn ngạch một cách minh bạch, công bằng và phù hợp với đặc thù của ngành nhiệt điện Việt Nam;
* Xem xét đảm bảo tính thống nhất Luật Điện lực, Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
8. Kết luận
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, nhiệt điện vẫn giữ vai trò nguồn điện nền chủ lực bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia chiếm khoảng 55-60% tổng sản lượng điện. Việc triển khai thí điểm phân bổ hạn ngạch cho lĩnh vực nhiệt điện là cần thiết nhưng cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp với đặc thù công nghệ, nhiên liệu và chế độ vận hành của từng nhà máy. Trong giai đoạn 2025–2026, với mức giảm phát thải khoảng 1,6–2,0%, cơ chế hạn ngạch phát thải nên được xem như công cụ thúc đẩy tối ưu vận hành, nâng cao hiệu suất và giảm tiêu hao nhiên liệu hơn là tạo áp lực tài chính cho doanh nghiệp.
Nếu được triển khai phù hợp, việc phân bổ hạn ngạch và tham gia thị trường các-bon của lĩnh vực nhiệt điện sẽ góp phần nâng cao hiệu quả vận hành và hỗ trợ ngành nhiệt điện từng bước chuyển dịch theo hướng phát thải thấp, bền vững hơn trong tương lai.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Tài nguyên và Môi trường, "Báo cáo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cập nhật của Việt Nam," 2022.
[2] Thủ tướng Chính phủ, "Quyết định số 500/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII)," 15/05/2023.
[3] Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), "Báo cáo tình hình hoạt động các năm và kế hoạch vận hành hệ thống điện quốc gia," 2024.
[4] Tổng cục Hải quan Việt Nam, "Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 12 và 12 tháng năm 2024," 2025.
[5] International Energy Agency (IEA), "Coal Market Update 2025," IEA, Paris, 2025.
[6] Bộ Tài nguyên và Môi trường, "Dự thảo Quyết định phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính và phương thức phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính giai đoạn 2025-2026," 2024.
[7] Thủ tướng Chính phủ, "Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính cập nhật," 26/08/2024.
Tin khác
Tìm lời giải cho bài toán bao bì nhựa: Từ chính sách quốc gia đến hành động tiên phong tại địa phương
Nghiên cứu hiện trạng thu gom, tái chế và môi trường tại một số làng nghề tái chế chất thải điện tử ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp
TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.
