“Dân vận số” _ “chìa khoá vàng” xây dựng thế trận lòng dân trong kỷ nguyên số

Kỳ 2: "Dân vận số" _ trọng dân, gần dân, hiểu dân trên không gian số.

29/07/2026 15:22 Văn hóa
Mỗi hành động “dân vận số” tạo nên một viên gạch xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Để biến ý chí thành sức mạnh lòng dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì “dân vận số” phải thực sự trọng dân, gần dân, hiểu dân trong kỷ nguyên số.

Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, “dân vận số” phải thực sự trọng dân, gần dân và hiểu dân, lắng nghe ý kiến phản hồi của nhân dân, kịp thời định hướng tư tưởng đúng đắn cho nhân dân qua các nền tảng số. Bởi lẽ, chỉ khi “ý Đảng” hòa nhịp cùng “lòng dân” biến niềm tin thành sức mạnh “thế trận lòng dân” bất khả xâm phạm trước mọi luồng thông tin độc hại.

“Trọng dân” trên không gian số: Coi sự hài lòng của người dân là thước đo giá trị.

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề xây dựng mối quan hệ gắn bó mật thiết, máu thịt giữa Đảng với nhân dân là một nguyên tắc nhất quán, có vai trò đặc biệt quan trọng, Người cho rằng: Để dân tin Ðảng, tin vào chế độ tốt đẹp thì người lãnh đạo phải thực hành dân chủ với dân, tôn trọng nhân dân như tôn trọng bản thân mình. Từ đó, mỗi cán bộ phải giữ mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng, thường xuyên mở rộng dân chủ để người dân được nói lên suy nghĩ của mình và làm những việc có ích, có lợi cho xã hội. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: “Quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc”, phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân. Tăng cường củng cố và phát huy sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; thực hành Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”[1].

Trên không gian số, tinh thần “trọng dân” được nâng tầm thông qua việc thiết lập một cơ chế dân chủ trực tiếp, nơi các tiêu chí “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” được vận hành thông suốt bằng công nghệ. Đây không chỉ là giải pháp hành chính mà là chiến lược bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ sớm, từ xa, thông qua việc khẳng định vị thế chủ thể của người dân.

Kỳ 2:
Dân vận số để lắng nghe nhân dân nói, hiểu dân, gần dân trên không gian số (Ảnh minh họa)

Về “dân biết” là thông qua không gian mạng, các nhóm cộng đồng nhân dân được cung cấp thông tin chính thống về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những chính sách của địa phương nơi người dân đang sống. Từ nơi biên giới đến nơi hải đảo, thông qua mạng xã hội nhân dân được tiếp cận thông tin nhanh hơn, trực diện hơn. Dân biết qua sự minh bạch số chủ động xóa bỏ rào cản thông tin. Thay vì niêm yết tĩnh tại trụ sở, các cơ quan Đảng và Nhà nước thực hiện công khai hóa quy hoạch, chính sách và công tác cán bộ trên các nền tảng số. Việc cung cấp dữ liệu mở giúp nhân dân tiếp cận sự thật khách quan, từ đó vô hiệu hóa hoàn toàn các luận điệu xuyên tạc, tin đồn thất thiệt của các thế lực thù địch.

Với “dân bàn” thể hiện sự là tôn trọng tiếng nói của nhân dân, thẳng thắn tiếp nhận, không né tránh phản ánh, góp ý, phê bình đúng đắn của nhân dân. Tuyệt đối không coi mạng xã hội chỉ là nơi phát đi thông tin một chiều của cán bộ, chính quyền đến nhân dân, mà phải coi trọng sự phản hồi của nhân dân, không lơ là, chủ quan dù là những phản hồi nhỏ nhất. Bên cạnh đó, trước khi một chính sách, luật mới được ban hành được trưng cầu ý kiến nhân dân, vì thế nhân dân được bày tỏ ý kiến của mình. Sự tôn trọng thể hiện ở việc lắng nghe trí tuệ nhân dân qua các diễn đàn, ứng dụng công dân số. Việc tổ chức các đợt góp ý qua mạng cho các dự án luật hay đề án phát triển kinh tế địa phương chính là cách Đảng trân trọng từng ý kiến phản biện, biến “ý Đảng” thành quy trình hội tụ “lòng dân” một cách dân chủ nhất.

“Dân kiểm tra” là bước tiến mới trong quản trị quốc gia, người dân có thể theo dõi tiến độ xử lý công việc của cán bộ trong thời gian thực. Ví dụ như việc công khai tiến độ giải ngân vốn đầu tư công hoặc quá trình giải quyết hồ sơ tư pháp trên các cổng thông tin quốc gia là minh chứng sống động. Khi người dân có công cụ số để giám sát quyền lực, sự hài lòng của họ tăng lên, đồng nghĩa với việc niềm tin vào chế độ được củng cố vững chắc. Đó chính là bức tường thành kiên cố nhất để bảo vệ Đảng trên không gian mạng.

Khi người dân được cung cấp thông tin đầy đủ, được tham gia góp ý, được giám sát quá trình thực thi chính sách, những luận điệu xuyên tạc như: “Đảng xa dân”, “dân không có quyền làm chủ”, “chính quyền không lắng nghe dân”,… sẽ tự bị phủ nhận. Vì vậy, trọng dân trên không gian số chính là cách bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng thực tiễn dân chủ, minh bạch và trách nhiệm.

“Gần dân” trên không gian số: Có mặt mọi lúc khi dân cần

“Gần dân” trên không gian số là sự hiện diện của cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng ở nơi nhân dân đang quan tâm, đang trao đổi, đang băn khoăn. “Gần dân” trên không gian số là biết lên tiếng đúng lúc, trả lời đúng việc, giải thích đúng điều dân cần hiểu. Trong bài viết mang tên “Phải xem trọng ý kiến của quần chúng”, đăng trên báo Nhân Dân, số 874, ngày 27-6-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra một yêu cầu trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân đó là: “Tuyệt đối không để nhân dân “không dám nói” và càng không để họ “không thèm nói”, nếu không thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng”[2]. Vì thế, “gần dân” là yêu cầu cấp thiết để gây dựng thế trận lòng dân.

Khi chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, mọi hành vi công vụ, từ thái độ tiếp dân đến tiến độ giải quyết thủ tục, được hiển thị công khai trên các ứng dụng như Vneid hay Cổng dịch vụ công, người dân sẽ thực hiện quyền giám sát một cách trực tiếp, không qua trung gian. Sự gần gũi này triệt tiêu tư duy “quan cách”, “cửa quyền”, bắt buộc cán bộ phải tự soi, tự sửa dưới sự quan sát của hàng triệu “mắt thần” nhân dân.

Thời gian qua, các thế lực thù địch đã lợi dụng không gian số trong các sự kiện quan trọng, như: lợi dụng cách mạng tinh gọn bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp rêu rao rằng “Sáp nhập chỉ là hình thức bên ngoài, tốn kém ngân sách, tiền của nhân dân” hay “Càng tinh gọn lại càng phình ra, tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nước” đồng thời kích động “tâm lý vùng miền”; xuyên tạc về công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng, bôi nhọ lãnh đạo cấp cao; lợi dụng bầu cử Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 xuyên tạc rằng “Cuộc bầu cử chỉ là diễn kịch, còn mọi sự đã được an bài” với những lời lẽ đầy tính kích động, chúng xúi giục nhân dân không tham gia bỏ phiếu. Gần đây nhất, lợi dụng quá trình giải phóng mặt bằng phục vụ dự án trọng điểm tại thành phố Hà Nội, dự án sân bay Gia Bình (tỉnh Bắc Ninh), chúng xuyên tạc rằng “dân bị cướp đất” với thái độ hằn học, gây tâm lý bất mãn. Chính vì vậy, “dân vận số” cần phải được tiến hành thường xuyên, liên tục để “gần dân” hơn trên không gian số.

Thực tiễn cho thấy, các điểm nóng tư tưởng sẽ nảy sinh từ sự chậm trễ của thông tin chính thống. Khi người dân chờ đợi, nếu cơ quan chức năng im lặng, họ sẽ tìm đến các nguồn tin trôi nổi. “Gần dân” chính là việc lên tiếng kịp thời, cung cấp “vắc-xin thông tin” để dân có cơ sở giám sát tính đúng đắn của các luồng dư luận. Khi Đảng hiện diện ngay tại nơi dân đang lo lắng, niềm tin sẽ thay thế sự hoài nghi, chống tâm lý “không dám nói” và “không thèm nói”: Một chính quyền số thực sự gần dân phải tạo ra môi trường tương tác an toàn, bảo mật. Nếu công nghệ không đảm bảo quyền riêng tư, dân sẽ “không dám nói”; nếu kiến nghị không được phản hồi, dân sẽ “không thèm nói”. Đẩy mạnh “dân vận số” phải gắn liền với cá nhân hóa các kênh tiếp nhận phản ánh, giúp mỗi công dân thấy rõ vai trò giám sát của mình có giá trị thay đổi thực tiễn.

Minh chứng rõ nét “gần dân” trên không gian số là mỗi khi xảy ra các vụ việc phức tạp, nhạy cảm, các cơ quan chức năng chủ động cung cấp thông tin chính thống kịp thời trên nền tảng số để tin đồn, suy diễn nhanh chóng bị đẩy lùi, tránh “khoảng trống thông tin” để các thế lực thù địch khai thác. Bên cạnh đó, việc duy trì các fanpage chính quyền, cổng thông tin điện tử để trực tiếp giải đáp thắc mắc của người dân về thủ tục, chính sách ở các cấp, các ngành cũng đã tạo ra sự gần gũi thực chất. Các câu hỏi được lắng nghe, các kiến nghị được phản hồi đã tạo ra sự gắn bó mật thiết của Đảng, Nhà nước với nhân dân. Việc “gần dân” trên không gian số giúp thông tin chính thống đến đúng và trúng với nhân dân, là một phương thức quan trọng để chủ động giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng.

Kỳ 2:
Đẩy mạnh hành chính công hiệu quả để gần dân trên không gian số (nguồn: Trang thông tin điện tử Trung tâm Hành chính công Thành phố Hà Nội)

“Hiểu dân” để khơi thông sức dân, xây dựng thế trận lòng dân từ sự đồng thuận số.

Nếu “trọng dân” là thái độ, “gần dân” là hành động, thì “hiểu dân” chính là trí tuệ của công tác “dân vận số”. Trên không gian số, “hiểu dân” không chỉ dừng lại ở việc tổng hợp báo cáo, mà phải “đọc” được nhịp đập của lòng dân.

“Hiểu dân” là khả năng giải mã “dấu chân số”, tức là, Đảng và Nhà nước không chỉ lắng nghe những gì dân nói trực tiếp tại hội trường, mà phải có năng lực phân tích những điều họ đang quan tâm, băn khoăn qua các xu hướng tìm kiếm, các luồng dư luận trên mạng xã hội. Việc nắm bắt kịp thời các “tâm điểm” lo lắng về an sinh, môi trường hay giáo dục giúp chính sách đưa ra hợp với lòng dân, đảm bảo mỗi quyết sách đưa ra người dân đều được thụ hưởng đúng và trúng nhu cầu. Ví dụ như việc triển khai các ứng dụng “Công dân số” tại các đô thị thông minh (như Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh) cho phép người dân chụp ảnh hiện trường, phản ánh sai phạm và theo dõi quy trình xử lý của cơ quan chức năng; hoặc các đường dây nóng 24/24 để nhân dân phản ánh những khó khăn, vướng mắc. Đây chính là biểu hiện sinh động nhất của việc “hiểu dân”, biến công nghệ thành nhịp cầu chân thành nhất để thực thi quyền giám sát, từ đó thắt chặt thế trận lòng dân bền vững.

Bên cạnh đó, “hiểu dân” góp phần dự báo để ngăn chặn “virus” hoài nghi, phải nhận diện được sự thay đổi trong tâm trạng đám đông trước khi nó trở thành “điểm nóng”, giúp nhận diện các kịch bản xuyên tạc của thế lực thù địch đang nhắm vào nỗi đau hoặc sự bức xúc của dân. Khi hiểu rõ dân đang “đau” ở đâu, “vướng” chỗ nào, công tác dân vận sẽ có những lời giải thích xác đáng, kịp thời, giúp khơi thông điểm nghẽn tư tưởng, biến sự hoài nghi thành sự đồng thuận số.

“Hiểu dân” để thấy rằng đằng sau mỗi tài khoản mạng xã hội là một số phận, một kỳ vọng. Khi cán bộ dân vận số có năng lực thấu cảm, biết trân trọng những bức xúc chính đáng và phản hồi bằng ngôn ngữ của sự chân thành, họ sẽ khơi dậy được sức dân. Sự đồng thuận số không đến từ áp đặt mệnh lệnh, mà đến từ việc người dân cảm thấy mình được hiểu, được bảo vệ và được thụ hưởng thành quả từ sự ổn định chính trị.

“Hiểu dân” giúp công tác dân vận không rơi vào áp đặt một chiều, né tránh vấn đề nhân dân quan tâm, băn khoăn. Khi những bức xúc chính đáng được nhận diện sớm và giải quyết bằng thái độ cầu thị, các thế lực thù địch, cơ hội không thể lợi dụng thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc bản chất chính trị từ các vấn đề dân sinh.

Như vậy, trong kỷ nguyên số, “trọng dân, gần dân, hiểu dân” không chỉ là yêu cầu đạo đức của người làm công tác dân vận, mà còn là phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ sớm, từ xa. Khi nhân dân được tôn trọng, được lắng nghe, được thấu hiểu, niềm tin sẽ được củng cố. Vấn đề đặt ra tiếp theo là: làm thế nào để niềm tin ấy chuyển hóa thành nhận thức đúng, hành động đúng và sự đồng lòng bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ trên không gian mạng?

kỳ 3 và kết: "Dân vận số" - để dân tin, dân hiểu, dân đồng lòng.


[1] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội 2026, tr.22.

[2] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 10, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.372.

Trần Minh Điệp, Nguyễn Bá Thanh, Triệu Thu Thủy, Trường Sĩ quan Chính trị, Bộ Quốc phòng

THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN - QUẢNG CÁO

Xin chờ trong giây lát...

TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT

Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.

Phiên bản di động