Xây dựng môi trường văn hoá số - "Xây lá chắn, dựng niềm tin"
“Xây dựng lá chắn” trong môi trường văn hóa số
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, không gian mạng trở thành một không gian sinh hoạt văn hoá mới. Văn hoá không chỉ được thể hiện rộng rãi ở không gian thực mà còn lan toả mạnh mẽ trên không gian số. Trong không gian số các nền tảng mạng xã hội, ứng dụng số hoá khiến cho văn hoá có không gian tương tác rộng lớn, Với ưu thế của không gian số là tốc độ lan truyền nhanh chóng, tính phi giới hạn, tính đa chiều giúp văn hoá lan toả nhanh chóng, rộng khắp giúp mọi người tiếp cận dễ dàng. Tuy nhiên mặt trái đó là không gian số dễ xuất hiện những thông tin chưa được kiểm duyệt chặt chẽ, nội dung trái chiều, văn hoá lệch chuẩn làm suy thoái tư tưởng, đạo đức con người. Đặc biệt Đại hội XIV, Đảng ta đã đề cập đến những nhiệm vụ mới để xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phù hợp với sự vận động, phát triển của công nghệ số và lĩnh vực văn hoá đó là: “Phát triển các ngành công nghiệp văn hoá gắn với xây dựng thương hiệu quốc gia; xây dựng và hoàn thiện thị trường sản phẩm và dịch vụ văn hoá; xây dựng văn hoá trong kinh tế và trong chính trị; xây dựng môi trường văn hoá số…”[1]. Qua đó cho thấy nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hoá số là một trong những nhiệm vụ mới được xác định và đòi hỏi phải được đẩy mạnh thực hiện một cách nghiêm túc.
Môi trường văn hoá được hình thành với lịch sử hàng ngàn năm, nhưng môi trường văn hoá số là môi trường mới được hình thành trên cơ sở sự phát triển của mạng xã hội, mạng Internet. Hiện nay, môi trường văn hoá số vẫn là một chủ đề đang được nhiều nhà nghiên cứu tiếp tục phân tích. Có thể hiểu bước đầu về nội hàm khái niệm môi trường văn hoá số đó là tổng hoà các yếu tố giá trị đạo đức, hành vi, ứng xử, thiết chế văn hoá có tính chuẩn mực do con người xây dựng được hình thành, vận hành trên các nền tảng công nghệ số và không gian mạng.
![]() |
| Hoạt động đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng ở Trường Sĩ quan chính trị |
Theo Cẩm nang chuyển đổi số của Bộ Thông tin và Truyền thông: “Văn hóa số có thể hiểu văn hóa số là các quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức của con người trong môi trường số”[2]. Việc xây dựng môi trường văn hoá số có vai trò góp phần mở rộng không gian sáng tạo, lan toả các giá trị văn hoá truyền thống vượt qua giới hạn thời gian, không gian. Các yếu tố cấu thành nên môi trường văn hoá bao gồm con người số, nội dung số, hạ tầng số, thiết chế văn hoá số. Con người số là chủ thể sáng tạo văn hoá là cũng là chủ thể thụ hưởng văn hoá, quá trình sáng tạo các nội dung văn hoá số đòi hỏi con người số phải có kiến thức, kỹ năng về văn hoá và ứng dụng công nghệ số.
Nội dung số là những sản phẩm văn hoá được sáng tạo dựa trên những nét đẹp văn hoá dân tộc được quảng bá trên không gian số như các video clip, hình ảnh, podcast, sách báo điện tử, ứng dụng game, ứng dụng số, lớp học online… Các nội dung này phản ánh nét đẹp văn hoá dân tộc, mang thông điệp tích cực nhằm xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, định hướng hành động, ứng xử chuẩn mực cho con người. Hạ tầng số chính là công nghệ, đây chính là nơi để các sản phẩm văn hoá được quảng bá bao gồm các thiết bị máy tính, mạng, trung tâm lưu trữ, dữ liệu đám mây, hệ thống dữ liệu số của văn hoá, trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo… Thiết chế văn hoá đó là các thể chế, pháp lý quy định trong quá trình sáng tạo, sử dụng, vận hành các nội dung văn hoá số. Các quy tắc, quy định này giúp người sáng tạo văn hoá và người thụ hưởng văn hoá.
Việc xây dựng môi trường văn hoá số ở nước ta hiện nay đã có những kết quả tích cực bước đầu đó là hệ sinh thái số phát triển nhanh chóng với các nền tảng số, mạng xã hội, báo chí, wedsite… Các nền tảng số góp phần lan toả các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc và định hướng các thông tin chính thống, tích cực. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu tiếp cận tri thức trên nền tảng số ngày càng lớn. Ý thức tham gia mạng xã hội, mạng Internet ngày càng cao.
Bên cạnh đó thời gian qua môi trường văn hoá số ở nước ta chịu tác động tiêu cực một cách hệ thống ở nhiều khía cạnh. Trên các nền tảng số như Facebook, TikTok, Youtube… nhiều nội dung bị xuyên tạc, bóp méo, câu view “bẩn” khiến cho nhận thức xã hội bị lệch lạc nhất là trong những ngày lễ lớn của dân tộc, các quyết sách của Nhà nước được ban hành… Các nội dung văn hoá phẩm độc hại, phản cảm lan truyền gây kích động tâm lý xã hội, tạo xu hướng lệch chuẩn về văn hoá ứng xử, thói quen “bắt trend” thiếu chọn lọc gây mất giá trị thẩm mĩ, đạo đức truyền thống. Nguy hại hơn đó là trên các nền tảng số các hội nhóm lợi dụng để trục lợi về kinh tế và thúc đẩy các hoạt động chống phá, tuyên truyền xuyên tạc về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nói xấu chế độ và các lãnh tụ.
Với tính chất khó kiểm soát thông tin, dữ liệu của không gian số và sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo khiến cho các tin giả, các nội dung phản cảm, lệch chuẩn ngày càng phổ biến. Hậu quả đó là các nội dung xấu độc này tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm, thái độ, ý thức, kỹ năng sử dụng các công nghệ số của con người. Đặc biệt nguy hiểm khi các thế lực phản động lợi dụng mạng xã hội, mạng Internet để thúc đẩy các hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Điều đó đặt ra nhiệm vụ cấp bách phải xây dựng môi trường văn hoá tạo lá chắn bảo vệ văn hoá dân tộc và nền tảng tư tưởng của Đảng.
Việc xây dựng môi trường văn hoá số góp phần ngăn ngừa, phát hiện các thông tin xấu độc, định hướng dư luận, tạo sức đề kháng cho xã hội. Tuyên truyền về quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng đặc biệt là những thành tựu quan trọng của đất nước trong suốt 40 năm đổi mới. Đây chính là biện pháp hữu hiệu để định hướng tư tưởng, nhận thức, củng cố niềm tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng. Hơn nữa xây dựng môi trường văn hoá số góp phần hình thành chuẩn mực văn hoá ứng xử văn minh trên mạng, thúc đẩy hình thành công dân số, góp phần xây dựng xã hội số lành mạnh.
"Dựng niềm tin" trong kỷ nguyên số
Nhắc tới niềm tin chúng ta thường xác định niềm tin có mối liên hệ với yếu tố ảo. Tuy nhiên đây là một phạm trù nghiên cứu của triết học, khác với niềm tin tôn giáo, trong triết học Mác - Lênin niềm tin đề cao lý tính, coi thực tiễn, tri thức là những nhân tố cấu thành nên niềm tin. Niềm tin là nền tảng tạo dựng sự ổn định cho xã hội, để tạo niềm tin xã hội đòi hỏi sự tham gia của nhiều tổ chức, lực lượng. Trong đó Đảng, Nhà nước có vai trò định hướng, quản lý; các cơ quan , tổ chức có vai trò thực thi, cung cấp thông tin; cán nhân có trách nhiệm xây dựng ý thức trong sáng tạo, tiếp nhận, chia sẻ thông tin nhất là trên không gian số.
Trong môi trường số, cái được gọi là “niềm tin” dễ bị lung lay bởi tác động của các thông tin sai trái không có căn cứ, các hành vi lệch chuẩn, hành ứng thiếu văn hoá, các nội dung không được kiểm định. Sự tràn lan của các thông tin sai lệch, tin tức “giật gân”, “niềm tin giả tạo” khiến con người khó phân biệt giữa cái đúng và cái sai, sự hoài nghi trong xã hội tăng lên làm lung lay niềm tin xã hội. Đặc biệt với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, truyền thông khiến cuộc khủng hoảng thông tin, truyền thông số ngày càng mạnh mẽ, sự khan hiểm của các tin tức nóng, sự kiện mới tạo khoảng trống thông tin nhất là nguồn thông tin chính thống. Và một yếu tố quan trọng khiến niềm tin xã hội bị giản sút trong không gian số đó là yếu tố xuất phát từ bản thân con người khi họ không có sự nhận thức đầy đủ về những hệ luỵ của không gian mạng đối với con người, bên cạnh đó kỹ năng số của người dân còn chưa hoàn thiện làm cho khả năng phát hiện, xử lý các thông tin sai lệch không đầy đủ cũng là một nguyên nhân khiến suy giản niềm tin xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số.
![]() |
| Hoạt động đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng trên không gian mạng ở Trường Sĩ quan chính trị |
Từ đó nhiệm vụ “Dựng niềm tin” trong kỷ nguyên số không thể thực hiện một chiều và cảm tính mà xác định đây chính là những hoạt động quyết định sự vận hành ổn định của toàn bộ hệ sinh thái số, chính phủ số, xã hội số. Trong đó nhiệm vụ đầu tiên cần thực hiện phải gắn liền với nhiệm vụ lấy con người làm trung tâm, xây dựng hệ giá trị, môi trường văn hoá lành mạnh. Bởi con người ở vị trí trung tâm họ vừa là chủ thể sáng tạo vừa là chủ thể thụ hưởng văn hoá.
Xây dựng môi trường văn hoá số tạo dựng niềm tin xã hội cần bắt đầu từ việc giáo dục cho các chủ thể về văn hoá, đạo đức số làm cho người dân nâng cao sức đề kháng thông tin trong toàn xã hội. Chủ thể ở đây chính là quần chúng nhân dân bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định rằng: “Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”[3]. Tiến hành xây dựng hệ chuẩn mực văn hoá số trong đó quy định rõ hành vi, thái độ, chuẩn mực giao tiếp, tính trung thực, trách nhiệm của con người trong quá trình tham gia khai thác, sử dụng, sáng tạo, lan truyền các nội dung văn hoá số trên không gian mạng. Xây dựng thế hệ “công dân số” với tinh thần trách nhiệm cao, có hiểu biêt và kỹ năng sử dụng thành thạo các công cụ công nghệ số. Qua đó nâng cao khả năng “miễn dịch thông tin” trong toàn xã hội.
Đầu tư xây dựng môi trường thông tin “sạch” nhằm xác định chất lượng thông tin quyết định chất lượng niềm tin xã hội. Tăng cường kiểm soát tin giả, nội dung xấu độc thông qua cơ chế ràng buộc trách nhiệm pháp lý của các nhà cung cấp thông tin, nền tảng số… Song song với đó cần kết hợp giữa “xây” và “chống” trong bảo vệ giá trị văn hoá tốt đẹp và tuyên truyền đường lối của Đảng, Nhà nước. Kết hợp phát triển các giá trị văn hoá truyền thống với công nghệ hiện đại để quảng bá văn hoá dân tộc. Sáng tạo nội dung số kết hợp với sáng tạo các sản phẩm tuyên truyền quan điểm, đường lối của Đảng…
Đồng bộ giữa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và xử lý vi phạm mang tính răn đe để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật khi tham gia khai thác, sử dụng, chia sẻ thông tin trên không gian số. Thiết lập cơ chế phản hồi, xử lý thông tin hai chiều nhanh, gọn, hiệu quả, rõ ràng để xử lý thông tin giữa các nhà cung cấp dữ liệu với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quy định rõ trách nhiệm của các kênh thông tin truyền thống chính thống để thẩm định độ chính xác, tin cậy của các thông tin, nội dung truyền thông số tránh tạo các “khoảng trống” thông tin truyền thông hoặc tung tin “giật tít” gây hoang mang dư luận.
Ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ và truyền thông để củng cố niềm tin xã hội. Công nghệ vừa là nguồn cơn gây ra khủng hoảng niềm tin nhưng cũng là liều thuốc giải để chữa trị khủng khoảng thông tin. Tiếp tục nghiên cứu, phát triển các ứng dụng mới và sử dụng triệt để AI, Big Data để phát hiện, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát, xử lý thông tin… Chủ động sử dụng công nghệ hiện đại để sáng tạo các sản phẩm văn hoá số lan toả những giá trị tích cực, tạo không gian văn hoá lành mạnh, nhân văn, trung trực trên môi trường mạng. Đồng thời xây dựng các ứng dụng, kênh tiếp nhận thông tin, xử lý, phản hồi và đánh giá từ người dân đối với các cơ quan chức năng tạo không gian tương tác trực tuyến nhanh, gọn, hiệu quả.
Có thể thấy rằng hiện nay xây dựng môi trường văn hoá số là nội dung mới được Đảng ta xác định cần phải thực hiện trong thời gian tới và cần gắn bó chặt chẽ nhiệm vụ này với trách nhiệm xây dựng niềm tin trong xã hội số. Bởi niềm tin trong kỷ nguyên số đang bị lung lay có thể do những tác động vô tình không có chủ đích nhưng cũng rất nguy hại nếu đó là những hành vi có chủ đích. Những hành động có mục đích xấu đó nhằm làm băng hoại đạo đức xã hội, thuần phong mĩ tục, xâm hại đến các giá trị tốt đẹp của văn hoá dân tộc, phá hoại môi trường hoà bình, phát triển của đất nước. Đó là những hành động nguy hiểm cần loại bỏ để củng cố niềm tin, gia tăng sự gắn kết giữa con người với xã hội.
Từ đó, đòi hỏi phải tiến hành nhiều biện pháp đồng bộ quyết liệt giữa các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và toàn xã hội để làm trong sạch môi trường văn hoá số, xây dựng con người Việt Nam thời đại mới sẵn sàng làm chủ công nghệ, có tri thức, văn hoá đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới./.
Nguyễn Thị Ngọc Dung
Khoa Văn hoá, Ngoại ngữ - Trường Sĩ quan Chính trị
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập 2, tr.52
[2] Bộ Thông tin và Truyền thông, Cẩm nang chuyển đổi số, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, tr.74.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011
THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN - QUẢNG CÁO
Tin mới
Phường Vị Khê (Ninh Bình) thông báo đấu giá quyền sử dụng 101 lô đất, khởi điểm từ 18,8 triệu đồng/m2
VinSpace ký kết hợp đồng phóng vệ tinh với SpaceX: Mở bước tiến mới cho ngành công nghiệp không gian Việt Nam
Tin khác
TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.

