Từ chủ trương của Đảng đến thực tiễn Hưng Yên: Bảo vệ môi trường - phép thử của niềm tin
Kỳ I: Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng
Những mục tiêu cụ thể thay cho khẩu hiệu
Có những thành quả phát triển được nhìn thấy bằng những con số: tốc độ tăng trưởng, quy mô nền kinh tế, những tuyến đường mới, những khu công nghiệp mới, những đô thị đang mở rộng. Nhưng có một thước đo lặng lẽ hơn, gần với đời sống mỗi người hơn và suy cho cùng quyết định chất lượng của mọi thành quả phát triển: môi trường sống.
Nguồn nước có an toàn không? Không khí có trong lành không? Rác thải được thu gom, vận chuyển và xử lý như thế nào? Những dòng sông, cánh đồng, khu dân cư có được bảo vệ trước sức ép của công nghiệp hóa, đô thị hóa hay không? Khi người dân phát hiện một vấn đề môi trường và lên tiếng, chính quyền có nhìn thấy, có lắng nghe và có hành động hay không? Những câu hỏi tưởng như rất đời thường ấy lại chạm tới một vấn đề có ý nghĩa chính trị sâu sắc: một đường lối đúng phải được chứng minh bằng cuộc sống.
Trong quá trình đổi mới, nhận thức của Đảng về bảo vệ môi trường không ngừng được bổ sung, phát triển cùng thực tiễn. Từ Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, tư duy về môi trường ngày càng gắn chặt hơn với mô hình tăng trưởng, chất lượng cuộc sống và yêu cầu phát triển bền vững
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định yêu cầu xây dựng mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực, đồng thời nhấn mạnh phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng là yêu cầu tất yếu. Cùng với đó là yêu cầu quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý hiệu quả các vi phạm về tài nguyên, môi trường.
Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV cũng xác định rõ quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu phải được thực hiện trên cơ sở ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Cùng với việc xây dựng, hoàn thiện khung khổ pháp lý để phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế cácbon thấp, thiết lập và vận hành sàn giao dịch tín chỉ cácbon nội địa; hoàn thiện hệ thống giám sát môi trường thời gian thực, quy định bắt buộc báo cáo và kiểm soát chặt chẽ khí thải đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn...
Vì vậy, bảo vệ môi trường không phải là nhiệm vụ đứng bên ngoài phát triển. Đối với Hưng Yên, nhận thức ấy càng có ý nghĩa trong bối cảnh tỉnh đang đứng trước những cơ hội phát triển mới, với yêu cầu tăng trưởng cao, mở rộng không gian kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hóa, phát triển hạ tầng và nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân.
Tại kỳ họp diễn ra ngày 25/02/2026 Hội đồng nhân dân tỉnh đã thông qua Nghị quyết số 832/NQ-HĐND thông qua điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Hưng Yên thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trong đó, đặt mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực phòng, chống và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, các mục tiêu môi trường đến năm 2030 được xác định khá cụ thể, trong đó hướng tới 100% hộ dân được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh; 100% chất thải rắn sinh hoạt ở đô thị và nông thôn được thu gom, xử lý bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn; 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường; 100% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý và 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường.
Các mục tiêu được lượng hóa một cách cụ thể, như: đến năm 2030, Hưng Yên hướng tới 100% hộ dân được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh; 100% chất thải rắn sinh hoạt đô thị và nông thôn được thu gom, xử lý; 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn; 100% cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng được xử lý và 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt quy chuẩn môi trường. Đây là những chỉ tiêu có thể kiểm đếm và đối chiếu trong quá trình thực hiện.
Ngày 1/4/2026, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa I, nhiệm kỳ 2025-2030 ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TU về tăng cường bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết thể hiện quyết tâm chính trị của tỉnh trong việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh môi trường và nâng cao chất lượng sống của Nhân dân, đồng thời nhấn mạnh chuyển mạnh từ tư duy ứng phó sang chủ động phòng ngừa.
Đặt Nghị quyết số 14-NQ/TU trong tổng thể định hướng phát triển của tỉnh, có thể thấy bảo vệ môi trường đang được nhìn nhận từ một nhiệm vụ chuyên ngành trở thành một nội dung của quản trị phát triển. Môi trường phải được tính ngay từ khâu quy hoạch; khi thu hút một dự án công nghiệp phải nhìn cả công nghệ sản xuất, nhu cầu sử dụng nước, phát sinh chất thải và khả năng xử lý; khi tổ chức lại sản xuất nông nghiệp phải tính đến sức khỏe của đất, nguồn nước, chất thải chăn nuôi và khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Những yêu cầu này đặt ra ngay từ khâu lập quy hoạch, thu hút đầu tư và tổ chức sản xuất. Làm đường, mở đô thị phải tính chuyện thoát nước và xử lý nước thải. Thu hút nhà máy phải tính công nghệ, nguồn nước và chất thải. Tổ chức chăn nuôi phải tính hệ thống xử lý chất thải. Làm sớm những việc đó sẽ giảm áp lực xử lý khi ô nhiễm đã xảy ra.
![]() |
| tuyên truyền về bảo vệ môi trường tại tỉnh Hưng Yên |
Phát triển nhanh nhưng không phát triển bằng mọi giá
Năm 2026, Hưng Yên đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 10,5%. Kế hoạch số 07/KH-UBND ngày 10/1/2026 về điều hành thực hiện phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 đồng thời đặt ra các yêu cầu đối với nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và bảo vệ môi trường. Trong lĩnh vực nông nghiệp, tỉnh yêu cầu tiếp tục cơ cấu lại ngành gắn với ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao giá trị sản phẩm, bảo đảm an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường.
Nếu tăng trưởng dựa quá nhiều vào khai thác tài nguyên, sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu hao năng lượng lớn và tạo ra nhiều chất thải thì cái giá môi trường sẽ ngày càng cao. Ngược lại, nếu tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên và chuyển đổi xanh thì môi trường không còn chỉ là yếu tố phải “chịu đựng” tăng trưởng, mà trở thành một động lực thúc đẩy tăng trưởng chất lượng cao.
Đây chính là điểm gặp nhau giữa mục tiêu phát triển kinh tế và yêu cầu bảo vệ môi trường. Trong điều chỉnh Quy hoạch tỉnh, Hưng Yên đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ đô thị hóa trên 55%, đồng thời đặt các mục tiêu rất cao về thu gom, xử lý chất thải, nước sạch và kiểm soát các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Điều đó đặt ra một yêu cầu đối với chính quyền: không chỉ chạy theo tốc độ phát triển mà phải nâng cao chất lượng quản trị tương ứng với tốc độ phát triển. Một tỉnh có thể xây dựng hàng loạt công trình hiện đại trong thời gian ngắn, nhưng nếu năng lực quản lý không theo kịp thì những vấn đề môi trường sẽ tích tụ.
Chủ động trong công tác chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường
Nếu ô nhiễm môi trường thường biểu hiện ở những vấn đề có thể nhận diện khá trực tiếp, thì biến đổi khí hậu lại đặt ra một thách thức rộng hơn: nó làm thay đổi điều kiện phát triển.
Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022, xác lập khung định hướng dài hạn cho việc chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Đối với Hưng Yên, thích ứng với biến đổi khí hậu có những đặc điểm riêng gắn với điều kiện tự nhiên, sản xuất nông nghiệp, hệ thống sông ngòi, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa.
Không phải nguy cơ nào cũng biểu hiện thành một thảm họa lớn. Đôi khi biến đổi khí hậu được cảm nhận qua những điều rất bình thường: mùa vụ thay đổi, thời tiết thất thường, những đợt nắng nóng kéo dài, những trận mưa lớn gây ngập cục bộ, nhu cầu tưới tiêu tăng lên, sâu bệnh diễn biến phức tạp hơn.
Đây cũng là một trong những nội dung đã được ngành nông nghiệp và môi trường của tỉnh triển khai trong những năm qua. Theo tổng hợp của Sở Nông nghiệp và Môi trường, công tác phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu đã được lồng ghép vào kế hoạch sản xuất nông nghiệp; đồng thời tỉnh triển khai các phương án phòng, chống úng, hạn hán, điều tiết nước và thau rửa nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Đó là lý do Nghị quyết số 14-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh có ý nghĩa không chỉ ở việc xác định mục tiêu môi trường, mà còn ở sự chuyển đổi tư duy: từ bị động ứng phó sang chủ động phòng ngừa, từ xử lý từng vụ việc sang quản trị rủi ro môi trường gắn với phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Để người dân làm chủ thể chính trong bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường suy cho cùng là câu chuyện của quản trị. Một hệ thống quản lý tốt không phải là hệ thống chỉ xử lý nhanh khi có sự cố, mà là hệ thống có khả năng phát hiện nguy cơ từ trước.
Có những câu chuyện môi trường rất nhỏ nhưng lại chứa đựng những bài học lớn. Tại xã Diên Hà, sau phản ánh của người dân về tình trạng ô nhiễm do các trang trại chăn nuôi xả thải ra sông Cầu Chay và mương thuỷ lợi tại thôn Gia Lạp, chính quyền địa phương đã phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 của tỉnh tổ chức kiểm tra thực tế; những tồn tại trong xử lý chất thải được xác định, các hộ dân được yêu cầu khắc phục, nâng cấp hệ thống xử lý và không xả trực tiếp chất thải ra môi trường.
Nếu chỉ nhìn dưới góc độ một vụ việc, đây là câu chuyện về xử lý một phản ánh môi trường. Nhưng nếu nhìn dưới góc độ quản trị, nó cho thấy một nguyên tắc rất quan trọng: chính quyền phải có khả năng chuyển tiếng nói của người dân thành hành động quản lý.
Người dân không chỉ cần một chính quyền chỉ biết tuyên truyền về bảo vệ môi trường. Người dân cần một chính quyền có khả năng giải quyết những vấn đề họ đang phải đối mặt.
Khi phản ánh được tiếp nhận và xử lý, người dân có thêm cơ sở để tiếp tục giám sát. Khi vi phạm được kiểm tra và xử phạt, doanh nghiệp có trách nhiệm phải điều chỉnh. Vì vậy, hiệu quả quản lý môi trường không chỉ nằm ở văn bản mà ở thời gian kiểm tra, kết quả xử lý và việc khắc phục sau kiểm tra.
Nhưng chỉ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính thì chưa đủ. Môi trường là lĩnh vực liên quan đến hàng triệu hành vi nhỏ diễn ra mỗi ngày. Không ai có thể bố trí một cán bộ đứng bên cạnh từng người dân để nhắc họ không vứt rác. Không thể có lực lượng kiểm tra đủ lớn để giám sát mọi cơ sở sản xuất mọi lúc. Không thể chỉ dựa vào xử phạt để tạo ra một xã hội xanh. Điều cần xây dựng lâu dài là ý thức và văn hóa môi trường.
Đó là lý do các phong trào “Toàn dân chung tay bảo vệ môi trường, vì một Việt Nam xanh - sạch - đẹp” có ý nghĩa nếu được tổ chức thực chất, gắn với những vấn đề cụ thể của từng địa bàn.
Ngày 06/6/2026, cùng với các địa phương trên toàn tỉnh tại xã Hoàng Hoa Thám diễn ra hoạt động ra quân hưởng ứng phong trào “Toàn dân chung tay bảo vệ môi trường, vì một Việt Nam xanh – sạch – đẹp” theo Kế hoạch số 55/KH-MTTQ-BTT của Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh phát động có sự tham gia của cấp ủy, chính quyền, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, công chức và đông đảo Nhân dân. Hoạt động này được địa phương xác định là sự cụ thể hóa phong trào do MTTQ tỉnh phát động.
Nhìn từ bên ngoài, đó có thể chỉ là một buổi ra quân vệ sinh môi trường. Nhưng giá trị lớn hơn nằm ở khả năng huy động cộng đồng. Bảo vệ môi trường muốn bền vững phải trở thành công việc của cộng đồng.
Tuy nhiên, điều cần tránh là biến phong trào thành hình thức. Một buổi ra quân không thể thay thế cho cơ chế thu gom rác ổn định. Một khẩu hiệu không thể thay thế cho hạ tầng xử lý. Một tấm pano không thể thay thế cho việc kiểm soát nguồn thải. Một ngày môi trường không thể thay thế cho trách nhiệm môi trường 365 ngày trong năm.
Ra quân chỉ là bước đầu. Muốn giảm rác lâu dài phải có điểm thu gom, lịch thu gom, phương tiện vận chuyển, nơi xử lý và người chịu trách nhiệm. Vì vậy, phong trào cần đi cùng hạ tầng và quy định cụ thể ở từng địa bàn.
Để doanh nghiệp, người dân hiểu đúng – đủ chủ trương bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế - xã hội
Trong quá trình công nghiệp hóa, doanh nghiệp là một chủ thể đặc biệt quan trọng. Không thể xây dựng nền kinh tế xanh nếu khu vực doanh nghiệp đứng ngoài quá trình chuyển đổi xanh. Vì vậy, quan điểm “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng” phải được thể hiện ngay trong cách tỉnh lựa chọn, tổ chức và kiểm soát các hoạt động đầu tư, sản xuất. Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 01/4/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn, lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, truyền dữ liệu trực tiếp về cơ quan quản lý; 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh bảo đảm đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường và xử lý dứt điểm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đó là cách đưa yêu cầu môi trường từ khẩu hiệu thành điều kiện của phát triển.
Trong kế hoạch phát triển 5 năm 2026-2030, Hưng Yên lượng hóa mục tiêu đến năm 2030: 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường và 100% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý; 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường. Những mục tiêu ấy cho thấy yêu cầu môi trường đã được đặt vào cùng hệ thống chỉ tiêu phát triển, thay vì chỉ được xem là nhiệm vụ xử lý hậu quả.
Đây là mục tiêu rất cao. Nhưng chính những mục tiêu cao như vậy mới tạo ra áp lực đổi mới. Một doanh nghiệp muốn phát triển lâu dài phải tính đến môi trường ngay từ khi đầu tư. Một dự án muốn được cộng đồng chấp nhận phải chứng minh khả năng kiểm soát tác động môi trường. Một khu công nghiệp muốn có sức cạnh tranh phải có hạ tầng môi trường đồng bộ. Một sản phẩm muốn tham gia sâu vào thị trường quốc tế ngày càng phải đáp ứng những yêu cầu về phát thải, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn xanh.
Vì vậy, bảo vệ môi trường không còn chỉ là câu chuyện “chấp hành pháp luật”. Nó ngày càng trở thành một yếu tố của năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp nào chuyển đổi sớm sẽ có lợi thế. Địa phương nào tạo môi trường cho doanh nghiệp xanh sẽ có lợi thế. Và nền kinh tế nào xây dựng được chuỗi sản xuất xanh sẽ có khả năng phát triển bền vững hơn.
Ở lĩnh vực hạ tầng môi trường, Kế hoạch số 06/KH-UBND ngày 09/01/2026 về tăng cường năng lực thu gom, xử lý nước thải tập trung các đô thị đã đặt ra yêu cầu rõ: các khu đô thị phải có hệ thống thu gom, xử lý nước thải; tỷ lệ nước thải đô thị được thu gom và xử lý phải từng bước đạt trên 50% đối với đô thị loại II trở lên và 30% đối với các đô thị còn lại. Kế hoạch đồng thời yêu cầu các khu đô thị, khu dân cư tập trung mới xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tách biệt với nước mưa; với hệ thống thoát nước chung hiện hữu phải đầu tư cống bao, cống gom và công trình xử lý tập trung. Tư duy ở đây là chuyển từ xử lý hậu quả sang đầu tư hạ tầng phòng ngừa ô nhiễm ngay từ đầu.
Trong bức tranh phát triển của Hưng Yên, nông nghiệp vẫn giữ một vị trí quan trọng, dù cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch mạnh. Đặc thù của nông nghiệp là phụ thuộc trực tiếp vào đất, nước và khí hậu.
Kế hoạch phát triển ngành nông nghiệp và môi trường năm 2026 của Sở Nông nghiệp và Môi trường xác định mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ mới, năng suất và chất lượng cao, thân thiện môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Chất thải chăn nuôi là một ví dụ. Nếu được xử lý đúng, chất thải có thể trở thành nguồn phân bón, khí sinh học hoặc đầu vào cho những mô hình kinh tế tuần hoàn. Nếu không được xử lý, nó lại trở thành nguồn gây ô nhiễm nước, đất và không khí. Sự khác biệt nằm ở cách tổ chức sản xuất và quản lý.
Nhưng xa hơn việc xử lý từng trường hợp, điều cần hướng tới là xây dựng một thói quen sản xuất mới. Người chăn nuôi phải coi xử lý chất thải là một phần của chi phí sản xuất. Chính quyền phải coi quản lý chất thải chăn nuôi là một phần của quản lý nông nghiệp.
Những kết quả người dân có thể kiểm chứng
Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, có một vấn đề rất quan trọng: muốn bảo vệ niềm tin thì phải tạo ra những kết quả để niềm tin có cơ sở. Môi trường là một lĩnh vực rất thuận lợi để chứng minh điều ấy.
Một chủ trương về phát triển bền vững có thể được kiểm chứng bằng chất lượng nước. Một chính sách về đô thị xanh có thể được kiểm chứng bằng không gian cây xanh, giao thông, thoát nước và xử lý rác. Một chương trình thích ứng biến đổi khí hậu có thể được kiểm chứng bằng mức độ giảm thiệt hại khi thiên tai xảy ra. Một chính quyền gần dân có thể được kiểm chứng bằng tốc độ và chất lượng xử lý phản ánh. Một doanh nghiệp có trách nhiệm có thể được kiểm chứng bằng việc tuân thủ quy định môi trường.
Những kết quả này có thể kiểm tra bằng số liệu nước sạch, tỷ lệ thu gom rác, số cơ sở được kiểm tra, số tiền xử phạt, số công trình xử lý nước thải và dữ liệu quan trắc. Càng công khai rõ, việc đánh giá càng cụ thể.
Trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, sức thuyết phục của thực tiễn luôn có ý nghĩa đặc biệt. Không phải mọi vấn đề đều có thể giải quyết ngay. Không phải mọi chỉ tiêu đều đạt được trong một thời gian ngắn. Không phải mọi địa bàn đều có điều kiện giống nhau.
Hưng Yên đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới với nhiều cơ hội và cũng không ít thách thức. Tỉnh đang đứng trước yêu cầu tăng trưởng nhanh hơn, đô thị hóa mạnh hơn, công nghiệp phát triển hơn, hạ tầng đồng bộ hơn và không gian kinh tế rộng hơn. Nhưng chính những bước tiến ấy đòi hỏi trách nhiệm môi trường cao hơn. Không thể có một Hưng Yên hiện đại nếu môi trường không được bảo vệ tương xứng.
Bởi vậy, mỗi con đường sạch hơn, mỗi dòng nước được bảo vệ tốt hơn, mỗi cơ sở sản xuất tuân thủ pháp luật tốt hơn, mỗi khu dân cư chủ động hơn trước thiên tai đều là một minh chứng cụ thể cho hiệu quả của đường lối phát triển. Không phải bằng khẩu hiệu, mà bằng cuộc sống; không phải bằng những lời hứa xa xôi, mà bằng những thay đổi người dân có thể nhìn thấy, cảm nhận và kiểm chứng.
Kỳ 2: Lấy sự thật để phản bác, lấy kết quả để củng cố niềm tin!
Ngọc Nha
Tài liệu tham khảo:
1). Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 03/6/2013, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
2). Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
3). Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 01/4/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về tăng cường bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
4). Nghị quyết số 821/NQ-HĐND ngày 31/12/2025 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2026-2030 tỉnh Hưng Yên.
5). Nghị quyết số 832/NQ-HĐND ngày 25/02/2026 thông qua điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Hưng Yên thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
6). Kế hoạch số 06/KH-UBND ngày 9/1/2026 về tăng cường năng lực thu gom, xử lý nước thải tập trung các đô thị trên địa bàn tỉnh.
7). Kế hoạch số 46/KH-UBND ngày 6/2/2026 triển khai Nghị quyết số 394/NQ-CP của Chính phủ đã đặt ra một hệ thống mục tiêu đến năm 2030.
Tin khác
TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.
