Từ chủ trương của Đảng đến thực tiễn Hưng Yên: Môi trường - phép thử của niềm tin

Kỳ 2: Lấy sự thật để phản bác, lấy kết quả để củng cố niềm tin

03/09/2026 09:00 Địa phương
Môi trường là lĩnh vực dễ trở thành điểm nóng thông tin bởi nó gắn trực tiếp với nước uống, không khí, thực phẩm, sức khỏe, sinh kế và chất lượng sống. Một bức ảnh về rác thải, một đoạn video về nguồn nước, một phản ánh của người dân có thể nhanh chóng lan truyền trên không gian mạng. Trong bối cảnh đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể chỉ được hiểu là phản bác thông tin sai trái sau khi nó xuất hiện. Cách bảo vệ thuyết phục hơn phải bắt đầu từ chính thực tiễn: nhìn thẳng vào vấn đề, không né tránh hạn chế, minh bạch thông tin, xác định rõ trách nhiệm và tạo ra những kết quả mà Nhân dân có thể nhìn thấy, cảm nhận và kiểm chứng

Lắng nghe ý kiến từ Nhân dân

Nếu một người dân phản ánh khu dân cư có rác tồn đọng, hỏi vì sao nguồn nước có dấu hiệu bất thường, hay đặt câu hỏi về tác động môi trường của một dự án, thì trước hết đó là những tiếng nói cần được lắng nghe. Phản ánh có căn cứ là một nguồn thông tin quản lý; kiến nghị chính đáng là một kênh để chính quyền nhận diện vấn đề từ cơ sở. Một chính quyền gần dân không sợ những câu hỏi khó, bởi đối thoại và giải trình chính là cách biến sự quan tâm của Nhân dân thành nguồn lực quản trị.

Điều cần cảnh giác không phải là tiếng nói phản biện có trách nhiệm, mà là sự chuyển hóa từ một hiện tượng có thật thành một kết luận quy chụp; từ một vụ việc thành bản chất của cả hệ thống; từ một hạn chế thành lời khẳng định rằng mọi chủ trương đều thất bại. Một vụ ô nhiễm có thể là vấn đề nghiêm trọng cần xử lý, nhưng không thể từ một vụ việc cụ thể suy ra rằng Đảng không quan tâm đến môi trường. Một cơ sở vi phạm có thể phải xử lý nghiêm, nhưng không thể từ đó kết luận toàn bộ hệ thống quản lý môi trường đều bất lực.

Ranh giới giữa phản biện và xuyên tạc trước hết nằm ở cách sử dụng sự thật. Phản biện có trách nhiệm bắt đầu từ sự thật, đặt sự thật trong bối cảnh, chỉ ra nguyên nhân và hướng tới giải pháp. Xuyên tạc thường chỉ giữ lại một phần sự thật, tách khỏi bối cảnh, phóng đại một hiện tượng, bỏ qua những dữ liệu liên quan rồi dẫn người tiếp nhận tới một kết luận đã được định sẵn. Bởi vậy, muốn đấu tranh với thông tin sai lệch, trước hết phải tôn trọng sự thật: có ô nhiễm thì nói rõ có ô nhiễm; có sai phạm thì xử lý sai phạm; phản ánh đúng thì giải quyết; thông tin sai thì chứng minh vì sao sai. Chính sự thẳng thắn ấy mới tạo nền tảng cho phản bác có sức thuyết phục.

Kỳ 2: Lấy sự thật để phản bác, lấy kết quả để củng cố niềm tin
tỉnh Hưng Yên đang hướng tới trở thành Thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó nhiệm vụ bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt để thực hiện

Nhìn nhận thực tế để giải quyết mọi vấn đề được ngày một tốt hơn

Vì vậy, khi nói “bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng những việc làm cụ thể”, chiến lược bảo vệ môi trường là một ví dụ rất sinh động. Niềm tin không được tạo dựng bằng việc yêu cầu người dân tin; niềm tin được tạo dựng khi người dân nhìn thấy chính quyền nói đi đôi với làm, phát hiện sai phạm thì xử lý, có điểm nóng thì vào cuộc, có rác tồn đọng thì tìm giải pháp, có nước thải thì đầu tư hệ thống xử lý, có nguy cơ thiên tai thì chủ động phòng ngừa. Khi những kết quả ấy hiện diện trong đời sống hằng ngày, đường lối của Đảng được chứng minh bằng chính thực tiễn. Đó là cách bảo vệ nền tảng tư tưởng vừa trực diện, vừa bền vững và có sức thuyết phục nhất.

Nhưng sự thật cũng đòi hỏi phải nhìn thẳng vào phần việc chưa hoàn thành. Đến tháng 5/2026, UBND tỉnh cho biết toàn tỉnh phát sinh khoảng 1.977 tấn chất thải rắn sinh hoạt mỗi ngày, tỷ lệ thu gom khoảng 98%; nghĩa là vẫn còn lượng rác cần tiếp tục được thu gom, vận chuyển và xử lý đồng bộ. Sở Nông nghiệp và Môi trường đã yêu cầu UBND các xã, phường rà soát chính xác các điểm và khối lượng rác tồn lưu để báo cáo tỉnh, phân biệt rõ rác đã xử lý với rác còn tồn cần xử lý. Chính việc kiểm kê lại phần việc chưa xong, giao trách nhiệm cho cơ sở và yêu cầu báo cáo cụ thể cho thấy quản trị môi trường đang chuyển từ phản ứng theo vụ việc sang quản lý bằng dữ liệu và trách nhiệm.

Những số liệu trên cho phép nhìn rõ cả hai mặt. Tỉnh đã triển khai kiểm tra, xử lý, đầu tư và tăng cường quan trắc; đồng thời vẫn còn rác tồn lưu, một số điểm chất lượng nước chưa đạt yêu cầu và những cơ sở phải tiếp tục xử lý. Việc công khai cả kết quả lẫn phần việc chưa xong giúp đánh giá đúng tiến độ thay vì chỉ nhìn vào thành tích.

Sơ kết 6 tháng đầu năm 2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường đánh giá công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, đất đai và bảo vệ môi trường tiếp tục được tăng cường; tỉnh đã xử lý nhiều nhiệm vụ cấp bách về môi trường, quyết liệt xử lý ô nhiễm dòng sông, bờ sông gắn với xây dựng đô thị xanh, sạch, đẹp; đồng thời tăng cường quản lý rác thải sinh hoạt và năng lực thu gom, xử lý nước thải tập trung tại các đô thị. Định hướng 6 tháng cuối năm tiếp tục đặt nhiệm vụ tăng cường quản lý đất đai, tài nguyên và bảo vệ môi trường ở vị trí trọng tâm.

Các báo cáo quan trắc môi trường nước trên hệ thống lưu vực các dòng sông như một lời nhắc toàn hệ thống luôn phải thận trọng. Chẳng hạn, kết quả quan trắc tháng 12/2025 trên khu vực tỉnh Thái Bình cũ cho thấy một số thông số môi trường nước vẫn còn vượt quy chuẩn tại nhiều điểm, hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải nhiều năm vẫn luôn nằm trong diện “cảnh báo” về ô nhiễm nguồn nước. Điều đó có nghĩa là câu chuyện môi trường của Hưng Yên chưa thể kết luận là đã giải quyết xong. Và đây lại chính là điểm giúp bài viết có sức thuyết phục: không biến bài chính luận thành một bản thành tích một chiều, mà dùng cả kết quả đạt được và những tồn tại còn phải xử lý để chứng minh tinh thần “dám nhìn thẳng vào sự thật, dám chịu trách nhiệm và tiếp tục hành động”.

Ở chiều tích cực hơn, báo cáo triển khai nhiệm vụ năm 2026 của tỉnh cho biết năm 2025 có 98% số hộ dân được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh và 100% khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường. Đây là những kết quả cụ thể có thể đưa vào bài để chứng minh rằng tăng trưởng kinh tế và yêu cầu môi trường đang được đặt trong cùng một hệ thống quản trị, chứ không phải hai mục tiêu loại trừ nhau.

Các số liệu quản lý nhà nước cho thấy xu hướng tăng cường phát hiện và xử lý vi phạm. Tháng 8/2025, toàn tỉnh phát hiện 7 vụ vi phạm môi trường, xử lý 6 vụ, phạt 630 triệu đồng; lũy kế 8 tháng phát hiện 128 vụ, xử lý 85 vụ, số tiền xử phạt 5,067 tỷ đồng. Đến hết tháng 9/2025, phát hiện 137 vụ, xử lý 91 vụ, xử phạt 5,367 tỷ đồng. Tháng 10/2025 tiếp tục phát hiện 17 vụ và xử lý 11 vụ, phạt 1,034 tỷ đồng. Những con số ấy không phải chỉ thể hiện thành tích đơn thuần; ý nghĩa quan trọng hơn là cho thấy cơ chế phát hiện, kiểm tra và xử lý vi phạm đang được vận hành.

Nghị quyết 14-NQ/TU: giao việc, đặt mục tiêu, kiểm tra kết quả

Một nghị quyết về môi trường chỉ có thể đánh giá bằng việc nó được triển khai đến đâu: có kế hoạch thực hiện hay chưa, cơ sở nào được kiểm tra, vi phạm nào được xử lý, công trình nào được đầu tư, rác được thu gom đến đâu, nước thải được xử lý thế nào và người dân có được cung cấp thông tin hay không.

Trong triển khai thực hiện các chủ trương chỉ đạo từ Trung ương, Nghị quyết 14-NQ/TU không đứng riêng. Kế hoạch số 54-KH/ĐU ngày 1/5/2026 của Đảng ủy UBND tỉnh được ban hành để thực hiện Nghị quyết 14-NQ/TU; sau đó, Công văn số 4191/UBND-KT2 ngày 3/7/2026 tiếp tục yêu cầu các sở, ban, ngành, Công an tỉnh và UBND xã, phường nghiêm túc thực hiện Nghị quyết 14-NQ/TU, Kế hoạch 54-KH/ĐU, Kế hoạch 46/KH-UBND và các kết luận chỉ đạo của UBND tỉnh về môi trường. Chuỗi văn bản này cho thấy một điều: nghị quyết của Đảng được nối xuống kế hoạch của tổ chức đảng, rồi xuống nhiệm vụ quản lý nhà nước và cuối cùng đến trách nhiệm cụ thể ở xã, phường.

Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 1/4/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa I, nhiệm kỳ 2025-2030 về tăng cường bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết thể hiện sự chuyển dịch rõ ràng từ tư duy “xử lý khi có vấn đề” sang chủ động phòng ngừa, kiểm soát rủi ro, nâng cao sức chống chịu và gắn bảo vệ môi trường với chất lượng sống của Nhân dân.

Ngay từ cuối năm 2025, UBND tỉnh đã có Công văn số 2734/UBND-KT2 ngày 4/11/2025 về việc áp dụng định mức kinh tế - kỹ thuật thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt và giao cơ quan chuyên môn tham mưu định giá dịch vụ. Đây là chi tiết ít gây chú ý trên truyền thông nhưng có ý nghĩa quản trị rất lớn: muốn thu gom, vận chuyển và xử lý rác ổn định thì phải có cơ chế tài chính và giá dịch vụ phù hợp. Nói cách khác, tỉnh đang xử lý cả “phần cứng” và “phần mềm” của bài toán môi trường.

Kế hoạch 46/KH-UBND không chỉ vận động “không xả rác” mà yêu cầu xây dựng hạ tầng phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý; tăng cường camera giám sát, thanh tra, kiểm tra, công khai xử lý vi phạm và phát huy vai trò MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội. Bảo vệ môi trường vì vậy được đặt trong một hệ thống gồm thể chế, hạ tầng, giám sát, chế tài và sự tham gia của cộng đồng.

Kế hoạch số 06/KH-UBND ngày 9/1/2026 về tăng cường năng lực thu gom, xử lý nước thải tập trung các đô thị trên địa bàn tỉnh. Cùng với đó, Kế hoạch số 46/KH-UBND ngày 6/2/2026 triển khai Nghị quyết số 394/NQ-CP của Chính phủ đã đặt ra một hệ thống mục tiêu đến năm 2030: 100% xã, phường tổ chức ngày cuối tuần ra quân vệ sinh công cộng; 100% xã, phường tổ chức phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình; 100% khu dân cư, tổ dân phố bổ sung nội dung bảo vệ môi trường vào hương ước, quy ước; 100% chất thải rắn sinh hoạt đô thị và nông thôn được thu gom, xử lý theo quy định; đồng thời hướng tới xóa bỏ các điểm đen ô nhiễm và các bãi rác tự phát gây ô nhiễm.

Từ rác thải đến nước thải: phải xử lý từ gốc

Những con số từ thực tiễn trong công tác phát hiện, kiểm tra, xử lý vi phạm liên quan đến lĩnh vực môi trường trên địa bàn tỉnh từ ngày 1/7/2025 đến nay cho thấy đây không phải là sự vào cuộc mang tính hình thức. Riêng giai đoạn từ ngày 3/2 đến 13/3/2026, Đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra 41 cơ sở tại phường Mỹ Hào và phường Đường Hào; 11/12 cơ sở tại phường Mỹ Hào đã bị xử phạt với tổng số tiền hơn 503 triệu đồng; 27/29 cơ sở tại phường Đường Hào đã bị lập biên bản vi phạm và đang hoàn thiện hồ sơ xử lý. Trước đó, trong tháng 9/2025, lực lượng Cảnh sát kinh tế đã tham mưu xử phạt 5 doanh nghiệp tại khu vực Đông Mai với tổng số tiền hơn 2 tỷ đồng do các hành vi liên quan đến giấy phép môi trường, xả nước thải, khí thải vượt quy chuẩn; riêng Công ty TNHH Làng nghề Đông Mai bị xử phạt 435 triệu đồng về hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn.

Ở các làng nghề tái chế phế liệu, tính quyết liệt thể hiện bằng những con số rất cụ thể. Năm 2025, Công an tỉnh phát hiện, khởi tố 6 vụ án với 10 bị can liên quan các hành vi chôn, lấp, đổ chất thải; tham mưu UBND tỉnh xử phạt hành chính 180 vụ với 195 đối tượng. Riêng tại khu vực Đông Mai, lực lượng chức năng kiểm tra 6 doanh nghiệp, trong đó 5 doanh nghiệp bị xử phạt tổng cộng hơn 2 tỷ đồng vì không có giấy phép môi trường, xả nước thải, khí thải vượt quy chuẩn và vi phạm về nguồn phát sinh chất thải; Công ty TNHH Làng nghề Đông Mai bị xử phạt 435 triệu đồng về hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn. Sang đầu năm 2026, từ 03/02 đến 13/3, đoàn kiểm tra liên ngành tiếp tục kiểm tra 41 cơ sở tại phường Mỹ Hào và phường Đường Hào; 11/12 cơ sở ở Mỹ Hào đã bị xử phạt hơn 503 triệu đồng, 27/29 cơ sở ở Đường Hào đã bị lập biên bản vi phạm để xử lý. Chuỗi kiểm tra liên tục ấy cho thấy nguyên tắc “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng” được đặt cả ở nơi lợi ích kinh tế và sinh kế làng nghề đang hiện hữu.

Đối với các làng nghề tái chế phế liệu, tỉnh không lựa chọn cách né tránh những tồn tại kéo dài. Sau các chỉ đạo của Thường trực, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh tiếp tục tổ chức kiểm tra, xử lý; đến cuối năm 2025 ban hành Quyết định số 2420/QĐ-UBND ngày 31/12/2025 thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành tại các làng nghề tái chế phế liệu phường Đường Hào và phường Mỹ Hào. Từ tháng 12/2025, các đoàn kiểm tra liên ngành tiếp tục trực tiếp kiểm tra việc chấp hành pháp luật về môi trường, phòng cháy, chữa cháy, quy hoạch, xây dựng, hoạt động điện lực và sử dụng điện tại các cụm công nghiệp, làng nghề tái chế phế liệu.

Đáng chú ý là ngay sau khi Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 12/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ được ban hành, tỉnh đã cụ thể hóa bằng Kế hoạch số 83/KH-UBND ngày 13/10/2025. Kế hoạch không chỉ nêu khẩu hiệu bảo vệ môi trường mà xác định rõ mục tiêu, nguồn lực, lộ trình, cơ quan chịu trách nhiệm và sản phẩm thực hiện; yêu cầu phân công theo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”, đồng thời nhấn mạnh công khai, minh bạch và huy động cộng đồng tham gia giám sát. Đặc biệt, kế hoạch tập trung vào những vấn đề người dân cảm nhận trực tiếp nhất: môi trường nước, không khí, các điểm nóng ô nhiễm và việc tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp.

Điểm đáng chú ý là việc xử lý không dừng ở xử phạt. Tỉnh đồng thời triển khai kiểm tra, đầu tư hạ tầng, hoàn thiện cơ chế thu gom - vận chuyển - xử lý rác và xác định trách nhiệm của từng cấp. Đây là cách xử lý cả nguyên nhân và khâu thực hiện, thay vì chỉ giải quyết từng vụ việc.

Từ cấp tỉnh đến cấp xã: nơi kết quả được kiểm chứng

Từ ngày 1/7/2025, Hưng Yên bước vào một không gian phát triển mới sau hợp nhất tỉnh và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Trong bối cảnh ấy, bảo vệ môi trường không được xem là một nhiệm vụ đứng ngoài quá trình tổ chức lại bộ máy hay thúc đẩy tăng trưởng, mà tiếp tục được đặt trong tổng thể điều hành phát triển. Chỉ thị số 01/CT-UBND ngày 11/7/2025 về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 mở ra chu trình lập kế hoạch mới; các yêu cầu về phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường được đặt trong cùng logic điều hành kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp, trách nhiệm ấy càng cần được phân định rõ. Công văn số 4191/UBND-KT2 ngày 03/7/2026 của UBND tỉnh đã yêu cầu các sở, ban, ngành, Công an tỉnh và UBND các xã, phường nghiêm túc thực hiện Nghị quyết 14-NQ/TU, Kế hoạch 54-KH/ĐU và Kế hoạch 46/KH-UBND, đồng thời thực hiện các kết luận chỉ đạo của UBND tỉnh về quản lý rác thải sinh hoạt. Đây là một mắt xích rất cụ thể của quá trình biến chủ trương thành kỷ luật thực thi.

Nếu cấp tỉnh có vai trò hoạch định chiến lược, ban hành cơ chế và điều phối nguồn lực thì cấp xã là nơi những chủ trương ấy được kiểm nghiệm bằng thực tế.

Sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, Hưng Yên đang vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp với 104 đơn vị hành chính cấp xã. Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh năm 2026 cũng xác định phạm vi quy hoạch gồm 104 đơn vị hành chính cấp xã.

Con số ấy cho thấy quy mô và độ phức tạp của công tác quản lý môi trường ở cơ sở. Mỗi xã, phường có điều kiện khác nhau. Có nơi chịu áp lực đô thị hóa. Có nơi phát triển công nghiệp. Có nơi tập trung sản xuất nông nghiệp. Có nơi có làng nghề. Có nơi có hoạt động chăn nuôi quy mô lớn. Có nơi chịu áp lực từ giao thông. Có nơi cần đặc biệt quan tâm đến tiêu thoát nước. Không thể có một cách làm hoàn toàn giống nhau cho tất cả.

Điều cần thống nhất là mục tiêu và nguyên tắc; còn cách tổ chức thực hiện phải phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa bàn. Đây là lúc vai trò của cấp ủy cơ sở trở nên đặc biệt quan trọng. Cấp ủy không làm thay chính quyền. Nhưng cấp ủy phải lãnh đạo để vấn đề môi trường được đặt đúng vị trí trong chương trình phát triển của địa phương.

Chính quyền không làm thay người dân. Nhưng chính quyền phải tạo ra điều kiện, hạ tầng và cơ chế để người dân thực hiện trách nhiệm của mình. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội không thay thế cơ quan quản lý. Nhưng có thể trở thành cầu nối để huy động sức dân, giám sát cộng đồng và lan tỏa những hành vi tích cực. Đó chính là cơ chế phối hợp của cả hệ thống chính trị.

Một ví dụ đáng chú ý như, hoạt động ra quân đầu tháng 6/2026 trên địa bàn các xã, phường trên toàn tỉnh phong trào bảo vệ môi trường được triển khai với sự tham gia của Đảng ủy, UBND, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và đông đảo Nhân dân trong việc thực hiện Kế hoạch số 55/KH-MTTQ-BTT của Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh nhằm tổ chức triển khai, phát động và ra quân hưởng ứng phong trào thi đua “Toàn dân chung tay bảo vệ môi trường, vì một Việt Nam xanh – sạch – đẹp” không chỉ thể hiện tinh thần hưởng ứng phong trào của tỉnh mà còn cho thấy vai trò huy động cộng đồng của hệ thống chính trị cơ sở. Từ góc nhìn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giá trị của những việc làm ấy nằm ở chỗ chủ trương không dừng ở cấp tỉnh mà được chuyển thành hành động có địa chỉ, có lực lượng và có người dân tham gia.

Tại xã Hoàng Hoa Thám trong tháng 8/2026 tiếp tục xuất hiện những hoạt động như ra mắt “Đội xung kích bảo vệ môi trường” tại các thôn Tam Nông, Hưng Đạo,… đồng thời địa phương tổ chức hội nghị tham vấn cộng đồng về đánh giá tác động môi trường của dự án. Đây là biểu hiện đáng khuyến khích của quản trị môi trường ở cơ sở: vừa vận động cộng đồng, vừa tạo cơ chế để cộng đồng tham gia vào nhận diện và giám sát những tác động môi trường của các dự án.

Khi cộng đồng được tham vấn về đánh giá tác động môi trường của một dự án, người dân không còn chỉ là người chịu tác động mà có cơ hội trở thành một thành phần của quá trình quản trị. Đây là sự thay đổi quan trọng về phương thức quản lý.

Bảo vệ môi trường là một lĩnh vực mà nếu thiếu sự tham gia của Nhân dân thì rất khó đạt hiệu quả lâu dài. Chính quyền có thể đầu tư nhà máy xử lý rác. Có thể xây dựng hệ thống thu gom. Có thể ban hành quy định.

Vì vậy, tuyên truyền phải đi cùng hạ tầng. Quy định phải đi cùng thực thi. Trách nhiệm phải đi cùng điều kiện thực hiện. Đây chính là nguyên tắc quản trị mà các cấp chính quyền Hưng Yên cần tiếp tục cụ thể hóa.

Nếu chỉ nói với người dân rằng “hãy bảo vệ môi trường” thì chưa đủ. Phải giúp họ biết bảo vệ bằng cách nào. Phải tạo điều kiện để họ làm được. Phải ghi nhận những người làm tốt. Phải xử lý những hành vi cố tình vi phạm. Và phải tạo ra cảm giác rằng hành động của mỗi người đều có ý nghĩa.

Nâng cao hạ tầng bảo vệ môi trường toàn diện

Nghị quyết số 14-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã tạo ra một nền tảng chính trị quan trọng cho quá trình ấy. Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh tạo ra không gian phát triển dài hạn. Kế hoạch điều hành kinh tế - xã hội đưa môi trường vào cùng hệ thống mục tiêu phát triển. Ngành Nông nghiệp và Môi trường đang từng bước triển khai các nhiệm vụ về quan trắc, phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông nghiệp thân thiện môi trường. Các địa phương cơ sở đang cụ thể hóa bằng những mô hình, phong trào và hoạt động phù hợp với điều kiện từng nơi.

Đồng thời, tỉnh đang củng cố nền tảng dữ liệu để quản trị môi trường. Sở Nông nghiệp và Môi trường năm 2026 triển khai vận hành 10 trạm quan trắc tự động, gồm 3 trạm quan trắc chất lượng không khí xung quanh và 7 trạm quan trắc nước mặt; Sở cũng tổ chức kiểm định, hiệu chỉnh, sửa chữa, nâng cấp và vận hành các trạm để bảo đảm dữ liệu liên tục, chính xác. Khi dữ liệu quan trắc được duy trì ổn định, việc phát hiện nguy cơ ô nhiễm, kiểm tra doanh nghiệp và công khai chất lượng môi trường có cơ sở khách quan hơn, giảm phụ thuộc vào cảm tính hoặc chỉ phản ứng sau khi sự cố xảy ra.

Những mục tiêu tỉnh đặt ra cho giai đoạn 2026-2030 cho thấy yêu cầu ấy đã được lượng hóa. Nghị quyết số 821/NQ-HĐND ngày 31/12/2025 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030 xác định đến năm 2030 tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh đạt 100%; chất thải rắn sinh hoạt đô thị và nông thôn được thu gom, xử lý đạt 100%; chất thải nguy hại được thu gom, xử lý an toàn đạt 100%; 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường; 100% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý; tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt quy chuẩn môi trường đạt 100%; khoảng 70% nước thải ra môi trường trong các lưu vực sông được xử lý và tái sử dụng.

Việc vận hành 10 trạm quan trắc tự động, gồm 3 trạm quan trắc chất lượng không khí xung quanh và 7 trạm quan trắc nước mặt, giúp tỉnh có thêm dữ liệu liên tục để theo dõi chất lượng môi trường. Dữ liệu này có thể được sử dụng khi xác định điểm bất thường, kiểm tra cơ sở sản xuất và đánh giá diễn biến theo thời gian.

Một Hưng Yên xanh phải là một Hưng Yên phát triển tốt hơn

Và trong toàn xã hội, cần hình thành một quan niệm thống nhất rằng phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường không phải hai lựa chọn loại trừ nhau. Chúng ta không lựa chọn giữa một nền kinh tế phát triển và một môi trường trong lành.

Chúng ta lựa chọn một phương thức phát triển trong đó kinh tế lớn mạnh nhờ sử dụng hiệu quả tài nguyên, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và bảo vệ môi trường.

Đó là con đường phát triển phù hợp với định hướng của Đảng. Đó cũng là con đường phù hợp với yêu cầu của thời đại. Và hơn hết, đó là con đường phù hợp với lợi ích lâu dài của Nhân dân.

Một Hưng Yên xanh không có nghĩa là một Hưng Yên đứng yên. Ngược lại, Hưng Yên xanh phải là một Hưng Yên năng động hơn, hiện đại hơn, có công nghệ tốt hơn, sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, có những doanh nghiệp trách nhiệm hơn và có những cộng đồng dân cư văn minh hơn.

Màu xanh ấy phải hiện diện trong quy hoạch, trong nhà máy, trên cánh đồng, trong khu dân cư, trong trường học, trên những con đường và trong từng quyết định quản lý.

Một ví dụ cho hướng đi này là dự án Nhà máy điện rác Phù Cừ tại xã Đoàn Đào. Dự án được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư, với công suất thiết kế 1.600 tấn rác/ngày và công suất phát điện 40 MW; giai đoạn 1 dự kiến xử lý 800 tấn/ngày và nhà đầu tư cam kết đưa giai đoạn 1 vào hoạt động trong quý I/2027. Ý nghĩa của dự án không chỉ nằm ở một nhà máy, mà ở việc tỉnh từng bước chuyển cách tiếp cận từ chôn lấp, tồn lưu sang xử lý chất thải bằng công nghệ và thu hồi giá trị từ chất thải.

Màu xanh ấy phải hiện diện trong cách chính quyền lắng nghe Nhân dân. Trong cách doanh nghiệp đối xử với môi trường. Trong cách mỗi người dân đối xử với dòng sông, con đường, cánh đồng và không gian sống của chính mình. Và màu xanh ấy cũng phải hiện diện trong tầm nhìn của những người hôm nay đang quyết định tương lai của Hưng Yên.

Bởi môi trường không thuộc riêng thế hệ hiện tại. Chúng ta chỉ đang được trao quyền sử dụng nó trong một khoảng thời gian hữu hạn. Một dòng sông hôm nay chúng ta giữ sạch sẽ trở thành nguồn sống cho thế hệ sau. Một cánh đồng hôm nay chúng ta bảo vệ sẽ tiếp tục nuôi dưỡng những mùa vụ mai sau. Một khu rừng, một hàng cây, một mặt nước được giữ lại hôm nay có thể trở thành lá chắn trước những biến động khí hậu của ngày mai. Một quyết định đúng về môi trường hôm nay có thể giúp con cháu chúng ta tránh phải trả một cái giá rất lớn trong tương lai.

Vì thế, bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm hành chính. Đó là trách nhiệm chính trị. Là trách nhiệm xã hội. Là trách nhiệm đạo đức đối với thế hệ tương lai. Và cũng là trách nhiệm của mỗi chúng ta đối với quê hương.

Thay lời kết

Hưng Yên đang bước vào một chặng đường phát triển mới. Chặng đường ấy cần những con đường mới, những khu đô thị mới, những nhà máy mới, những công trình mới và những động lực tăng trưởng mới. Nhưng trên tất cả, chặng đường ấy cần một tư duy mới: phát triển để con người có cuộc sống tốt hơn, và phát triển bền vững phải bắt đầu từ việc giữ gìn môi trường sống của con người.

Khi tăng trưởng đi cùng với trách nhiệm bảo vệ môi trường, phát triển mới thực sự có chiều sâu. Khi chính quyền đi cùng Nhân dân, chủ trương mới thực sự đi vào cuộc sống. Khi khoa học, công nghệ đi cùng trách nhiệm xã hội, chuyển đổi xanh mới tạo ra động lực mới. Và khi những kết quả ấy được nhìn thấy trong cuộc sống hằng ngày, niềm tin vào con đường phát triển mà Đảng, Nhà nước và địa phương lựa chọn sẽ tiếp tục được củng cố bằng chính thực tiễn.

Đó cũng là cách thiết thực nhất để bảo vệ những giá trị mà cả hệ thống chính trị đang theo đuổi. Bảo vệ môi trường không chỉ là giữ sạch một con đường, một dòng sông hay một cánh đồng. Đó là giữ gìn nền tảng của cuộc sống; đồng thời góp phần xây dựng một mô hình phát triển hiện đại, có trách nhiệm với môi trường và hệ sinh thái. Quan điểm “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng” chỉ thực sự có sức thuyết phục khi được thể hiện trong từng quyết định quy hoạch, từng dự án đầu tư, từng cuộc kiểm tra, từng khoản đầu tư hạ tầng và từng hành động của cộng đồng. Chính từ những điều cụ thể ấy, chủ trương của Đảng được kiểm chứng bằng thực tiễn.

Hiệu quả bảo vệ môi trường có thể đo bằng những việc rất cụ thể: mục tiêu có được đưa vào kế hoạch hay không; trách nhiệm có được giao rõ hay không; vi phạm có được phát hiện và xử lý hay không; rác tồn lưu có được giải quyết hay không; chất lượng nước, không khí có được theo dõi bằng dữ liệu hay không; và cuối cùng, môi trường sống của người dân có tốt hơn hay không. Với những vấn đề thông tin dễ bị bóp méo, số liệu công khai và kết quả thực tế là cách kiểm chứng rõ nhất.

Và khi sự thật được tạo dựng bằng trách nhiệm, bằng hành động và bằng những kết quả vì Nhân dân, đó chính là một trong những nền tảng vững chắc nhất để củng cố niềm tin, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đưa Hưng Yên phát triển nhanh, xanh, bền vững, đáng sống trong kỷ nguyên mới./.

Ngọc Nha

Tài liệu tham khảo:

1). Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 03/6/2013, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

2). Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

3). Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 01/4/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về tăng cường bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

4). Nghị quyết số 821/NQ-HĐND ngày 31/12/2025 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2026-2030 tỉnh Hưng Yên.

5). Nghị quyết số 832/NQ-HĐND ngày 25/02/2026 thông qua điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Hưng Yên thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

6). Kế hoạch số 06/KH-UBND ngày 9/1/2026 về tăng cường năng lực thu gom, xử lý nước thải tập trung các đô thị trên địa bàn tỉnh.

7). Kế hoạch số 46/KH-UBND ngày 6/2/2026 triển khai Nghị quyết số 394/NQ-CP của Chính phủ đã đặt ra một hệ thống mục tiêu đến năm 2030.

8). Công văn số 4191/UBND-KT2 ngày 03/7/2026 của UBND tỉnh về tăng cường công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh.

Xin chờ trong giây lát...

TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT

Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.

Phiên bản di động