Đắk Lắk rút ngắn 51% thời gian xử lý thủ tục thành lập, mở rộng cụm công nghiệp

03/10/2026 07:41 Kinh tế, xã hội
UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành Quyết định số 2963/QĐ-UBND ngày 16/9/2026, phê duyệt quy trình nội bộ liên thông xử lý hồ sơ theo cơ chế “luồng xanh” đối với thủ tục thành lập, mở rộng cụm công nghiệp (CCN). Theo đó, tổng thời gian xử lý thủ tục được rút xuống còn 28 ngày làm việc, giảm 29 ngày, tương ứng 51% so với thời gian quy định tại Nghị định số 32/2024/NĐ-CP ngày 15/3/2024 của Chính phủ.

Cắt giảm thời gian, tăng tính liên thông

Việc rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực CCN được xem là một trong những giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư, giảm chi phí thời gian cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước.

Theo Quyết định số 2963/QĐ-UBND ngày 16/9/2026, quy trình nội bộ liên thông xử lý hồ sơ theo cơ chế “luồng xanh” được triển khai trên cơ sở quy định tại Điều 10 Nghị định số 32/2024/NĐ-CP ngày 15/3/2024 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 1 Nghị định số 303/2026/NĐ-CP ngày 1/8/2026.

Điểm đáng chú ý là toàn bộ quy trình thành lập, mở rộng CCN được phân định cụ thể trách nhiệm, thời gian xử lý của từng cơ quan, đơn vị. Qua đó, hạn chế tình trạng hồ sơ phải luân chuyển qua nhiều khâu, kéo dài thời gian giải quyết, đồng thời tạo điều kiện để nhà đầu tư chủ động hơn trong quá trình chuẩn bị và triển khai dự án.

Theo quy trình mới, UBND các xã, phường có trách nhiệm hướng dẫn nhà đầu tư, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị thành lập, mở rộng CCN theo quy định tại các điểm b, d và đ khoản 1 Điều 9 Nghị định số 32/2024/NĐ-CP tại Trung tâm Phục vụ hành chính công (PVHCC) tỉnh hoặc Trung tâm PVHCC cấp xã.

Ngay từ khâu tiếp nhận hồ sơ, quy trình được thiết kế theo hướng công khai, minh bạch và tạo cơ hội tiếp cận bình đẳng cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức có nhu cầu.

Cụ thể, trong thời gian 1,5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầu tiên của doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức đề nghị thành lập, mở rộng CCN, UBND cấp xã có trách nhiệm thông báo rộng rãi việc tiếp tục nhận hồ sơ đề nghị thành lập, mở rộng CCN trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương.

Thời hạn tiếp nhận hồ sơ được thực hiện trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày ra thông báo. Quy định này góp phần bảo đảm tính công khai trong quá trình lựa chọn, đồng thời tạo điều kiện để các chủ thể có năng lực và nhu cầu phù hợp tham gia.

Đắk Lắk rút ngắn 51% thời gian xử lý thủ tục thành lập, mở rộng cụm công nghiệp
Cụm Công nghiệp Tân An trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Liên thông từ cấp xã đến cấp tỉnh

Sau khi kết thúc thời gian tiếp nhận hồ sơ, quy trình tiếp tục được rút gọn thông qua cơ chế liên thông giữa chính quyền cấp xã và Sở Công Thương.

Trong thời gian 2,5 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc nhận hồ sơ đề nghị thành lập, mở rộng CCN, UBND cấp xã có trách nhiệm lập Tờ trình đề nghị thành lập, mở rộng CCN, kèm theo tệp tin điện tử hồ sơ của doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức đề nghị, gửi Sở Công Thương để chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan tổ chức thẩm định.

Việc sử dụng hồ sơ điện tử trong quá trình xử lý cũng góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong giải quyết thủ tục hành chính. Thay vì kéo dài thời gian qua các khâu chuyển giao hồ sơ, các cơ quan liên quan có điều kiện tiếp cận thông tin nhanh hơn, phục vụ công tác thẩm định và tổng hợp.

Sở Công Thương là cơ quan chủ trì thẩm định. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ thành lập, mở rộng CCN, Sở Công Thương hoàn thành thẩm định, tổng hợp báo cáo UBND tỉnh về việc thành lập, mở rộng CCN.

Trường hợp hồ sơ hoặc nội dung báo cáo thành lập, mở rộng CCN chưa đáp ứng yêu cầu, Sở Công Thương có văn bản gửi UBND cấp xã để bổ sung, hoàn thiện. Thời gian bổ sung, hoàn thiện hồ sơ không tính vào thời gian thẩm định.

Cùng với đó, việc lựa chọn doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật CCN được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định số 32/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7 Điều 1 Nghị định số 303/2026/NĐ-CP.

Khâu quyết định cuối cùng cũng được xác định rõ về thời gian. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ thành lập, mở rộng CCN kèm báo cáo thẩm định của Sở Công Thương, UBND tỉnh xem xét, quyết định việc thành lập, mở rộng CCN.

Đồng thời, UBND tỉnh thông báo cho doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức đề nghị làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật CCN về kết quả lựa chọn chủ đầu tư. Quyết định thành lập, mở rộng CCN được gửi Bộ Công Thương để theo dõi.

Tạo dư địa cho phát triển công nghiệp gắn với môi trường

Không chỉ hướng đến mục tiêu rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính, cơ chế “luồng xanh” còn có ý nghĩa đối với quá trình tổ chức không gian phát triển công nghiệp trên địa bàn Đắk Lắk.

Việc thành lập, mở rộng CCN là một trong những nội dung có tác động trực tiếp đến sử dụng đất, đầu tư hạ tầng, thu hút doanh nghiệp và tổ chức sản xuất. Do đó, việc đơn giản hóa, rút ngắn quy trình hành chính cần đi song song với yêu cầu kiểm soát quy hoạch, sử dụng đất và bảo vệ môi trường.

Theo quy định được UBND tỉnh áp dụng, trường hợp CCN có điều chỉnh về tên gọi, vị trí thay đổi trong địa giới hành chính cấp xã, diện tích tăng không quá 05 ha so với quy hoạch đã được phê duyệt và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cùng các quy hoạch khác trên địa bàn, UBND tỉnh xem xét, quyết định tại Quyết định thành lập, mở rộng CCN.

Các nội dung thay đổi này đồng thời được cập nhật tại kỳ lập, điều chỉnh quy hoạch tỉnh tiếp theo.

Cách tiếp cận này cho thấy yêu cầu phát triển công nghiệp được đặt trong mối liên hệ với quy hoạch tổng thể. Khi các CCN được hình thành và mở rộng theo đúng quy hoạch, việc bố trí mặt bằng sản xuất, đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật và tổ chức các công trình phục vụ sản xuất có điều kiện được thực hiện đồng bộ hơn.

Đặc biệt, đối với định hướng phát triển công nghiệp theo hướng xanh và bền vững, hạ tầng CCN cần được quan tâm ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Các yêu cầu về thu gom, xử lý nước thải, chất thải rắn, kiểm soát khí thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo đảm khoảng cách phù hợp với khu dân cư cần được đặt trong tổng thể quy hoạch và đầu tư hạ tầng.

Đây cũng là cơ sở để hạn chế nguy cơ phát sinh các điểm nóng về môi trường khi hoạt động sản xuất tập trung phát triển.

Từ góc độ doanh nghiệp, việc giảm thời gian xử lý thủ tục từ 57 ngày xuống còn 28 ngày làm việc giúp giảm đáng kể thời gian chờ đợi, tăng tính chủ động trong chuẩn bị kế hoạch đầu tư và huy động nguồn lực. Đối với cơ quan quản lý, quy trình liên thông giúp xác định rõ trách nhiệm, thời hạn xử lý và đầu mối chủ trì ở từng khâu.

Cơ chế “luồng xanh” vì vậy không chỉ là giải pháp cải cách thủ tục hành chính mà còn hướng đến xây dựng phương thức quản lý hiện đại, minh bạch và phối hợp hiệu quả giữa các cấp, ngành.

Việc Đắk Lắk rút ngắn 29 ngày làm việc, tương ứng 51% thời gian xử lý thủ tục thành lập, mở rộng CCN so với quy định tại Nghị định số 32/2024/NĐ-CP, được kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực thu hút các nguồn lực đầu tư vào hạ tầng công nghiệp.

Trong quá trình triển khai, hiệu quả của cơ chế này sẽ phụ thuộc vào sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền cấp xã, Sở Công Thương, các sở, ngành liên quan và UBND tỉnh. Cùng với yêu cầu giải quyết thủ tục nhanh, việc thẩm định quy hoạch, lựa chọn chủ đầu tư và bảo đảm các điều kiện về hạ tầng, môi trường cần tiếp tục được thực hiện chặt chẽ.

Đây là hướng tiếp cận cần thiết để mục tiêu cải cách hành chính gắn với phát triển công nghiệp không chỉ dừng ở việc “nhanh hơn”, mà hướng tới “nhanh, minh bạch, đúng quy hoạch và bền vững”, góp phần nâng cao chất lượng môi trường đầu tư và tạo nền tảng cho phát triển công nghiệp theo hướng xanh, hiệu quả trên địa bàn Đắk Lắk.

Lê Lĩnh

THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN - QUẢNG CÁO

Xin chờ trong giây lát...

TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT

Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.

Phiên bản di động