Đắk Lắk chủ động ứng phó thiên tai, bảo vệ môi trường những tháng cuối năm 2026
Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai
Ông Nguyễn Thiên Văn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ký ban hành văn bản số 17118/PA-UBND về phương án ứng phó thiên tai những tháng cuối năm 2026 trên địa bàn tỉnh. Đây là cơ sở để các cấp, ngành và địa phương chủ động triển khai công tác phòng ngừa, ứng phó với những tình huống thiên tai có thể xảy ra, hạn chế thấp nhất thiệt hại về người, tài sản và môi trường.
Theo nhận định của UBND tỉnh Đắk Lắk, từ nay đến cuối năm 2026, khu vực phía Đông tỉnh có khả năng xuất hiện khoảng 4-7 đợt mưa lớn. Trong những ngày nắng nóng, mưa dông nhiệt có thể xuất hiện vào chiều và chiều tối, đi kèm các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như mưa lớn cục bộ, lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh.
Những hình thái thời tiết này có thể gây ra nhiều hệ lụy đối với đời sống dân sinh và hoạt động kinh tế - xã hội. Mưa lớn kéo dài làm gia tăng nguy cơ ngập úng tại các vùng trũng thấp, khu dân cư ven sông, suối; gây sạt lở đất tại những khu vực có địa hình dốc, ảnh hưởng đến giao thông, công trình hạ tầng và hoạt động sản xuất. Trong khi đó, dông lốc, sét và gió giật mạnh có thể làm gãy đổ cây xanh, hư hỏng nhà cửa, công trình công cộng, gây nguy hiểm cho người dân và vật nuôi.
![]() |
| Lực lượng chức năng đang nỗ lực cứu dân ở Hòa Thịnh ( ảnh tư liệu) |
Đối với khu vực ven biển, trong giai đoạn tháng 10-12/2026, bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông được dự báo ít hơn mức trung bình nhiều năm. Tuy nhiên, nguy cơ xuất hiện gió mạnh, sóng lớn vẫn cần được tính đến, nhất là đối với tàu thuyền đánh bắt thủy sản, hoạt động nuôi trồng thủy sản và các khu vực dân cư ven bờ.
Đáng chú ý, UBND tỉnh Đắk Lắk cũng lưu ý diễn biến của hiện tượng El Niño có khả năng đạt cường độ rất mạnh trong những tháng cuối năm 2026 và tiếp tục duy trì sang đầu năm 2027. Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ tập trung ứng phó với mưa lũ trong thời gian trước mắt mà còn phải chuẩn bị các phương án phòng, chống hạn hán, thiếu nước và cháy rừng trong mùa khô 2026-2027.
Thực tế cho thấy, thiên tai trên địa bàn tỉnh trong năm 2026 đã gây ra những thiệt hại đáng quan tâm. Trong 9 tháng đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 15 đợt thiên tai, gồm 3 đợt mưa lớn, lũ và 12 đợt dông, lốc trong thời kỳ chuyển mùa. Các đợt thiên tai làm 2 người chết, 109 căn nhà bị hư hỏng, đồng thời gây thiệt hại đối với một số công trình hạ tầng, giao thông và thủy lợi. Tổng giá trị thiệt hại ban đầu ước tính hơn 3,9 tỷ đồng.
Đặc biệt, đợt mưa lũ lịch sử tháng 11/2025 tại khu vực phía Đông tỉnh vẫn là bài học kinh nghiệm quan trọng trong công tác phòng, chống thiên tai. Khi đó, mực nước trên các sông Ba, Kỳ Lộ và Bàn Thạch đều vượt đỉnh lũ lịch sử năm 1993. Mưa lớn liên tục trong nhiều ngày khiến nhiều khu vực bị ngập sâu, thời gian ngập kéo dài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân và hoạt động sản xuất.
Từ thực tế này, việc xây dựng các kịch bản ứng phó cần bám sát đặc điểm địa hình, thủy văn và tình hình dân cư từng khu vực. Trong phương án mới, tỉnh bổ sung nội dung xác định khu vực nguy hiểm, các hộ dân cần sơ tán, tuyến đường di chuyển và địa điểm tránh trú an toàn. Đồng thời, xây dựng phương án bảo đảm giao thông trong tình huống khẩn cấp, làm rõ cách thức ứng phó với các loại hình thiên tai nguy hiểm như động đất, sóng thần, nước dâng và gió mạnh trên biển.
Bảo đảm an toàn dân cư và hạ tầng môi trường
Một trong những yêu cầu xuyên suốt trong phương án ứng phó thiên tai của tỉnh Đắk Lắk là thực hiện hiệu quả phương châm “4 tại chỗ”, gồm chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện - vật tư tại chỗ và hậu cần tại chỗ. Trong đó, công tác phòng ngừa được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, đi trước một bước nhằm giảm thiểu rủi ro, hạn chế thiệt hại và chủ động xử lý các tình huống phát sinh.
UBND tỉnh yêu cầu các cấp, ngành tăng cường theo dõi, cập nhật thông tin dự báo thời tiết, cảnh báo thiên tai; kịp thời thông tin đến người dân để chủ động phòng tránh. Đặc biệt, cần tập trung rà soát những khu vực có nguy cơ ngập sâu, lũ quét, sạt lở đất và những địa bàn thường xuyên bị chia cắt khi xảy ra mưa lớn.
Công tác sơ tán dân được xác định là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ tính mạng người dân. Chính quyền địa phương phải lập danh sách các hộ dân nằm trong khu vực nguy hiểm, xác định cụ thể phương án di dời, lực lượng hỗ trợ, phương tiện vận chuyển và địa điểm tập kết. Việc sơ tán cần được triển khai kịp thời, không để người dân ở lại những khu vực có nguy cơ cao khi thiên tai diễn biến phức tạp.
![]() |
| Lực lượng chức năng tỉnnh Đắk Lắk khẩn trương khắc phục hậu quả mưa lũ vào cuối năm 2025. |
Theo phương án, mạng lưới 100 nhà sinh hoạt cộng đồng kết hợp phòng tránh lũ sẽ được sử dụng phục vụ trực tiếp công tác sơ tán, cứu hộ, cứu nạn tại các thôn, buôn. Bên cạnh đó, tỉnh bố trí 8 điểm tập kết phương tiện tại những địa bàn trọng điểm, đồng thời yêu cầu bảo đảm các tuyến đường tiếp cận điểm sơ tán và nhà tránh lũ hiện có.
Đối với công tác phòng ngừa rủi ro môi trường, việc bảo đảm an toàn hồ chứa thủy lợi, thủy điện và các công trình phòng, chống thiên tai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Các đơn vị quản lý cần thường xuyên kiểm tra hiện trạng công trình, theo dõi lượng mưa, mực nước và diễn biến dòng chảy để phối hợp vận hành phù hợp, hạn chế nguy cơ mất an toàn hồ đập và ảnh hưởng đến khu vực hạ du.
Song song đó, các lực lượng chức năng phải sẵn sàng nhân lực, phương tiện để xử lý những điểm ngập úng, sạt lở, khắc phục sự cố giao thông, bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành. Đối với khu vực ven biển, cần tăng cường quản lý tàu cá, nhất là tàu neo đậu tại các bến tự phát, tàu hết hạn đăng kiểm hoặc mất kết nối thiết bị giám sát hành trình. Khi có cảnh báo thời tiết nguy hiểm, người dân trên tàu thuyền và các lồng bè nuôi trồng thủy sản phải chủ động di chuyển đến nơi an toàn, không ở lại khu vực nguy hiểm.
Đáng lưu ý, công tác khắc phục hậu quả sau thiên tai không chỉ dừng lại ở việc cứu trợ và khôi phục giao thông mà còn phải gắn với bảo đảm vệ sinh môi trường, nguồn nước sinh hoạt và phòng ngừa dịch bệnh. Những khu vực bị ngập lụt, chia cắt thường tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, phát sinh rác thải, xác động vật và các chất thải sinh hoạt. Nếu không được thu gom, xử lý kịp thời, những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng môi trường tại địa phương.
Do đó, UBND tỉnh yêu cầu các địa phương khẩn trương tổ chức tìm kiếm người mất tích, cứu chữa người bị thương, cung cấp lương thực, nước uống, thuốc men và nhu yếu phẩm cho người dân vùng bị ảnh hưởng. Đồng thời, triển khai sửa chữa hạ tầng thiết yếu, khôi phục sản xuất, bảo đảm nguồn nước sạch, vệ sinh môi trường và chủ động phòng, chống dịch bệnh sau thiên tai.
Bên cạnh ứng phó với mưa lũ, việc chuẩn bị phương án chống hạn hán, thiếu nước và cháy rừng trong mùa khô cũng cần được quan tâm. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm bảo vệ tài nguyên nước, tài nguyên rừng, duy trì hoạt động sản xuất và hạn chế nguy cơ suy thoái môi trường.
Với phương án ứng phó được xây dựng, Đắk Lắk hướng đến nâng cao năng lực phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro thiên tai và tăng khả năng chống chịu của cộng đồng. Việc chủ động từ cơ sở, bảo đảm an toàn công trình hạ tầng, bảo vệ nguồn nước và vệ sinh môi trường sẽ góp phần hạn chế thiệt hại, ổn định đời sống người dân, hướng đến phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến khó lường.
THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN - QUẢNG CÁO
TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.
CÔNG NGHỆ XỬ LÝ TRO BAY TỪ NHÀ MÁY ĐỐT RÁC PHÁT ĐIỆN TRÊN THẾ GIỚI VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TẠI VIỆT NAM

