Đắk Lắk

Miền Trung - Tây Nguyên thúc đẩy công nghiệp môi trường, hướng tới các cụm công nghiệp sinh thái

22/09/2026 08:00 Hiệp hội
Từ nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp dồi dào, tiềm năng năng lượng tái tạo đến nhu cầu xử lý chất thải ngày càng lớn, miền Trung - Tây Nguyên đang đứng trước cơ hội hình thành các mô hình công nghiệp môi trường và cụm công nghiệp sinh thái. Đây được xem là hướng đi nhằm thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và gia tăng giá trị cho nông sản của khu vực.

Vừa qua, vào ngày 21/9, tại Hội trường Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam và Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (Bộ Công Thương) đã phối hợp với UBND tỉnh Đắk Lắk và Sở Công thương đã tổ chức Hội thảo chuyên đề cấp vùng về phát triển công nghệ, thiết bị, sản phẩm công nghiệp môi trường và mô hình cụm công nghiệp (CCN) sinh thái khu vực miền Trung - Tây Nguyên.

Hội thảo có sự tham dự của ông Cao Quốc Hưng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công Thương; ông Đào Mỹ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk; ông Trần Văn Lượng, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam - Bộ Công Thương; ông Nguyễn Hải Triều, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Đắk Lắk; đại diện Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp (Bộ Công Thương), lãnh đạo Sở Công Thương các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên cùng các chuyên gia, nhà khoa học, tổ chức tín dụng và cộng đồng doanh nghiệp sản xuất, chế biến nông - lâm sản trong vùng.

Chuyển đổi mô hình phát triển gắn với môi trường

Phát biểu tại hội thảo, ông Đào Mỹ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, cho rằng miền Trung - Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng đang có nhiều tiềm năng để phát triển thương mại, năng lượng tái tạo và công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp chủ lực.

Miền Trung - Tây Nguyên thúc đẩy công nghiệp môi trường, hướng tới các cụm công nghiệp sinh thái

Ông Đào Mỹ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk phát biểu tại hội thảo

Tuy nhiên, quá trình phát triển công nghiệp và chế biến nông sản cũng kéo theo những yêu cầu ngày càng cao về quản lý tài nguyên, kiểm soát chất thải và bảo vệ môi trường. Đây là bài toán đặt ra không chỉ đối với từng doanh nghiệp mà còn đối với quy hoạch phát triển không gian công nghiệp của cả khu vực.

Bám sát Quyết định số 1894/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển ngành công nghiệp môi trường, Đắk Lắk xác định phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và ứng dụng công nghệ hiện đại trong bảo vệ môi trường là xu hướng tất yếu.

Trong định hướng này, việc từng bước hình thành, chuyển đổi các CCN theo mô hình sinh thái được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng, hướng tới sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm chất thải và tạo ra các chuỗi sản xuất có khả năng hỗ trợ lẫn nhau.

Đối với một khu vực có thế mạnh về nông nghiệp như Tây Nguyên, việc chuyển đổi này còn mở ra hướng xử lý và gia tăng giá trị đối với lượng lớn phụ phẩm phát sinh trong quá trình sản xuất, chế biến nông - lâm sản.

Biến phụ phẩm thành nguồn lực

Theo ông Trần Văn Lượng, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam, Tây Nguyên đang sở hữu hai lợi thế đáng chú ý là nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp dồi dào và tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng mặt trời.

Miền Trung - Tây Nguyên thúc đẩy công nghiệp môi trường, hướng tới các cụm công nghiệp sinh thái
ông Trần Văn Lượng, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam phát biểu và thảo luận tại hội nghị

Khu vực Tây Nguyên có thế mạnh về cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, điều, sắn, mía, các loại cây ăn quả cùng hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm. Quá trình sản xuất, chế biến mỗi năm tạo ra khối lượng lớn phụ phẩm như vỏ cà phê, vỏ sầu riêng, vỏ điều, bã sắn, rơm rạ, thân cây, mùn cưa, phế phẩm gỗ và chất thải từ chăn nuôi. Nếu chỉ xem đây là chất thải cần xử lý thì sẽ bỏ lỡ một nguồn tài nguyên có giá trị.

“Điều quan trọng là phải thay đổi cách nhìn về phụ phẩm nông nghiệp và chăn nuôi. Trong kinh tế tuần hoàn, chất thải của quá trình sản xuất này có thể trở thành nguyên liệu đầu vào của một quá trình sản xuất khác. Khi được phân loại, thu gom và xử lý bằng công nghệ phù hợp, phụ phẩm có thể tạo ra những sản phẩm mới, từ đó vừa giảm áp lực môi trường, vừa tạo thêm giá trị kinh tế cho doanh nghiệp và người sản xuất”, ông Trần Văn Lượng nhấn mạnh.

Theo ông Lượng, với phụ phẩm cây trồng, cơ hội rất lớn nằm ở việc phát triển các công nghệ chế biến sâu. Thay vì đốt bỏ hoặc xử lý đơn thuần, nhiều loại phụ phẩm có thể được nghiên cứu để sản xuất phân bón hữu cơ, giá thể, nhiên liệu sinh khối, vật liệu mới, nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến hoặc các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.

Đối với phụ phẩm chăn nuôi, việc thu gom, xử lý chất thải để sản xuất khí sinh học, phân bón hữu cơ và tái sử dụng nguồn dinh dưỡng cũng là hướng cần được quan tâm. Nếu được tổ chức theo chuỗi, chất thải từ chăn nuôi có thể quay trở lại phục vụ sản xuất nông nghiệp, qua đó giảm lượng chất thải phải đưa đi xử lý và giảm sự phụ thuộc vào một số nguồn nguyên liệu bên ngoài.

Tuy nhiên, ông Lượng cho rằng chuyển phụ phẩm thành tài nguyên không phải là câu chuyện đơn giản. Thách thức lớn hiện nay là công nghệ, quy mô sản xuất, chi phí thu gom - vận chuyển, chất lượng nguyên liệu đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm sau tái chế.

Phụ phẩm nông nghiệp thường phân tán tại nhiều vùng sản xuất, có tính mùa vụ và độ ẩm khác nhau. Nếu không có hệ thống thu gom, phân loại và logistics phù hợp, chi phí đưa phụ phẩm về cơ sở xử lý có thể rất cao. Trong khi đó, không phải loại phụ phẩm nào cũng có thể áp dụng một công nghệ giống nhau.

Do đó, theo ông Lượng, cần tiếp cận vấn đề từ khâu quy hoạch. Các địa phương cần tính toán vùng nguyên liệu, vị trí cơ sở xử lý, hạ tầng giao thông, năng lượng và khả năng kết nối giữa các doanh nghiệp ngay trong quá trình quy hoạch các cụm công nghiệp.

“Muốn phát triển kinh tế tuần hoàn thì không thể làm theo từng doanh nghiệp riêng lẻ. Cần hình thành hệ sinh thái trong đó doanh nghiệp này có thể sử dụng phụ phẩm hoặc sản phẩm phụ của doanh nghiệp khác làm nguyên liệu đầu vào. Khi đó, giá trị của phụ phẩm không chỉ nằm ở khâu xử lý môi trường mà được kéo dài trong nhiều công đoạn của chuỗi sản xuất”, ông Trần Văn Lượng chia sẻ.

Một cơ hội khác được ông Lượng đề cập là sự phát triển của năng lượng tái tạo và công nghệ môi trường. Những phụ phẩm có khả năng tạo năng lượng có thể được nghiên cứu để sản xuất nhiên liệu sinh khối, kết hợp với các nguồn năng lượng tái tạo khác nhằm giảm chi phí năng lượng và giảm phát thải trong sản xuất.

Từ góc độ công nghiệp môi trường, ông Lượng cho rằng đây chính là thị trường còn nhiều dư địa cho doanh nghiệp Việt Nam. Nhu cầu về máy móc, thiết bị thu gom, phân loại, sấy, nghiền, ép, lên men, xử lý chất thải và tái chế phụ phẩm sẽ ngày càng tăng khi các ngành sản xuất chuyển sang mô hình xanh và tuần hoàn.

Đặc biệt, với những sản phẩm nông nghiệp có giá trị cao như cà phê, sầu riêng, điều và các loại cây trồng chủ lực của Tây Nguyên, việc tận dụng phụ phẩm để tạo ra sản phẩm thứ cấp sẽ góp phần nâng cao giá trị của toàn bộ chuỗi sản xuất.

Theo ông Lượng, thách thức hiện nay cũng chính là cơ hội để hình thành những ngành nghề mới, doanh nghiệp mới và chuỗi giá trị mới trong lĩnh vực công nghiệp môi trường. Nếu có chính sách phù hợp, công nghệ phù hợp và sự liên kết giữa Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học - tổ chức tài chính, phụ phẩm nông nghiệp và chăn nuôi có thể trở thành một nguồn nguyên liệu quan trọng cho kinh tế tuần hoàn.

“Cần chuyển từ tư duy ‘xử lý chất thải’ sang tư duy ‘khai thác tài nguyên từ chất thải’. Khi làm được điều đó, bài toán môi trường sẽ được gắn với bài toán kinh tế. Doanh nghiệp có thêm nguồn nguyên liệu, người sản xuất có thêm giá trị từ phụ phẩm, trong khi môi trường giảm được áp lực từ chất thải. Đây chính là nền tảng để phát triển các cụm công nghiệp sinh thái và một nền kinh tế tuần hoàn thực chất tại miền Trung - Tây Nguyên”, ông Trần Văn Lượng nhấn mạnh.

Quan điểm này cho thấy công nghiệp môi trường không chỉ được nhìn nhận ở khía cạnh xử lý ô nhiễm sau sản xuất mà cần được tích hợp ngay trong quá trình thiết kế chuỗi sản xuất, từ sử dụng nguyên liệu, năng lượng đến thu gom, tái chế và tái sử dụng chất thải.

Hạ tầng môi trường vẫn là điểm nghẽn

Từ thực tế khu vực Tây Nguyên, ThS. Ngô Đức Thanh, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, cho rằng hạ tầng môi trường đang là một trong những điểm nghẽn lớn đối với quá trình phát triển CCN.

Miền Trung - Tây Nguyên thúc đẩy công nghiệp môi trường, hướng tới các cụm công nghiệp sinh thái

Đại diện Viện Công nghệ năng lượng – Đại học Bách khoa Hà Nội báo cáo tham luận tại hội thảo

Theo thông tin được trình bày tại hội thảo, tỷ lệ CCN có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn tại 4 tỉnh trong khu vực mới khoảng 12,6%. Riêng Đắk Lắk đạt 5%, tương ứng 1/20 cụm.

Những con số này cho thấy yêu cầu đầu tư cho hạ tầng môi trường trong các CCN vẫn còn rất lớn. Khi quy mô sản xuất, chế biến tiếp tục mở rộng, nhu cầu xử lý nước thải, chất thải rắn, khí thải và các loại phụ phẩm cũng sẽ tăng theo.

Trong khi đó, Tây Nguyên đang phát sinh khối lượng lớn phụ phẩm từ sản xuất nông - lâm nghiệp. Mỗi năm, khu vực phát sinh hơn 500.000 tấn vỏ trấu cà phê cùng hàng triệu tấn bã sắn, vỏ điều và phế phẩm gỗ.

Nếu được phân loại, thu gom và xử lý bằng công nghệ phù hợp, đây có thể trở thành nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất nhiên liệu sinh khối, vật liệu, phân bón, sản phẩm tái chế hoặc các hoạt động sản xuất khác.

Từ góc độ môi trường, việc biến phụ phẩm thành nguyên liệu thứ cấp cũng góp phần giảm lượng chất thải phải xử lý cuối cùng, hạn chế lãng phí tài nguyên và giảm áp lực lên môi trường khu vực.

Hoàn thiện công nghệ, chính sách và nguồn vốn

Ở góc độ phát triển công nghiệp môi trường, ThS. Trương Việt Trường, đại diện Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp, Bộ Công Thương, cho biết ngành công nghiệp môi trường đang được định hướng trở thành ngành kinh tế chiến lược.

Theo đó, Bộ Công Thương đang hoàn thiện khung pháp lý, nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ tái chế, thúc đẩy thị trường thiết bị, công nghệ môi trường và tăng cường kết nối, chuyển giao công nghệ.

Đây là những nội dung có ý nghĩa đối với khu vực miền Trung - Tây Nguyên trong bối cảnh các địa phương đang đứng trước yêu cầu vừa phát triển công nghiệp, vừa kiểm soát tác động môi trường.

Miền Trung - Tây Nguyên thúc đẩy công nghiệp môi trường, hướng tới các cụm công nghiệp sinh thái
Lãnh đạo Công ty Cổ phần Dương Gia Bến Tre DMCBiochar chia sẻ giải pháp kinh tế tuần hoàn và nông nghiệp xanh.

Trên cơ sở các tham luận, các chuyên gia đề xuất tổ chức lại không gian CCN Tây Nguyên theo hướng liên kết chuỗi giá trị nông - lâm sản. Đồng thời, hội thảo giới thiệu dự thảo Bộ tiêu chí đánh giá CCN sinh thái và lộ trình triển khai giai đoạn 2026 - 2030.

Bên cạnh công nghệ và hạ tầng, nguồn vốn cũng được xác định là một yếu tố quan trọng đối với quá trình chuyển đổi xanh. Tại hội thảo, các ngân hàng thương mại giới thiệu các gói tín dụng phục vụ chuyển đổi xanh và logistics nông sản.

Trong đó, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) triển khai gói tín dụng 5.000 tỷ đồng, hỗ trợ đầu tư điện mặt trời mái nhà, hạ tầng KCN, CCN, kho xưởng cho thuê và dự án điện mặt trời nổi.

Việc kết nối giữa doanh nghiệp với các tổ chức tín dụng được kỳ vọng tạo thêm nguồn lực cho những dự án đầu tư công nghệ, nâng cấp hạ tầng môi trường và phát triển các mô hình sản xuất tiết kiệm năng lượng, tài nguyên.

Hướng tới các cụm công nghiệp sinh thái

Hội thảo cấp vùng tại Đắk Lắk không chỉ là diễn đàn trao đổi về công nghệ môi trường mà còn mở ra cơ hội kết nối giữa cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, nhà khoa học, tổ chức tài chính và doanh nghiệp.

Miền Trung - Tây Nguyên thúc đẩy công nghiệp môi trường, hướng tới các cụm công nghiệp sinh thái
Ông Đào Mỹ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk trao đổi tham luận tại hội thảo

Trong bối cảnh khu vực miền Trung - Tây Nguyên đang đẩy mạnh chế biến nông - lâm sản, phát triển năng lượng tái tạo và mở rộng các hoạt động công nghiệp, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng không gian sản xuất có khả năng thích ứng với các tiêu chuẩn môi trường ngày càng cao.

CCN sinh thái, nếu được quy hoạch đồng bộ và vận hành phù hợp, có thể tạo điều kiện để các doanh nghiệp chia sẻ hạ tầng, sử dụng hiệu quả năng lượng, tái sử dụng phụ phẩm và giảm chi phí xử lý chất thải.

Đối với Đắk Lắk và các địa phương trong khu vực, đây cũng là hướng tiếp cận nhằm gắn phát triển công nghiệp với lợi thế nông nghiệp, từng bước hình thành chuỗi giá trị khép kín hơn.

Từ phụ phẩm cà phê, sắn, điều, gỗ đến vỏ sầu riêng và các nguồn nguyên liệu khác, bài toán đặt ra không chỉ là xử lý chất thải mà còn là tìm kiếm công nghệ để tạo ra sản phẩm mới, thị trường mới và giá trị gia tăng mới.

Thông qua tăng cường liên kết vùng, hoàn thiện hạ tầng môi trường, lựa chọn công nghệ phù hợp và huy động nguồn vốn cho chuyển đổi xanh, miền Trung - Tây Nguyên có thêm cơ sở để từng bước kiến tạo không gian sản xuất theo hướng xanh, tuần hoàn và giảm phát thải.

Đây cũng là tiền đề để nâng cao giá trị nông sản, sử dụng hiệu quả tài nguyên và tăng sức cạnh tranh của sản phẩm khu vực trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.

Miền Trung - Tây Nguyên thúc đẩy công nghiệp môi trường, hướng tới các cụm công nghiệp sinh thái
Các đại biểu, quý quan khách lưu niệm tại Hội thảo
Lê Lĩnh

THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN - QUẢNG CÁO

Xin chờ trong giây lát...

TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT

Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.

Phiên bản di động