Khí thải Carbon - Cơ hội và thách thức cho Việt Nam
Khí thải Carbon (chủ yếu là CO2) đóng vai trò như một “con dao hai lưỡi”: vừa là thành phần tự nhiên cần thiết, nhưng sự dư thừa đang gây ra những hệ lụy nghiêm trọng đối với môi trường tự nhiên. Bởi Carbon là thành phần cấu tạo cơ bản của mọi phân tử hữu cơ (protein, lipid, carbohydrate và DNA), tạo nền tảng cho sự sống trên trái đất. Thông qua chu trình Carbon (được thu nạp hoặc thải ra từ động thực vật, qua quá trình hấp thụ, phân hủy, lắng đọng hóa thạch…), khí CO2 trong khí quyển giúp giữ nhiệt (hiệu ứng nhà kính tự nhiên), ngăn Trái đất trở thành một khối băng giá và duy trì nhiệt độ phù hợp cho sự sống, giúp điều hòa khí hậu trong tự nhiên.
Với thực vật, quang hợp là quá trình mà diệp lục trong lá cây hấp thụ năng lượng ánh sáng để phân tách nước và giải phóng oxy, tạo ra năng lượng hóa học. Năng lượng đó được dùng để biến đổi CO2 từ không khí thành dinh dưỡng nuôi sống cây trồng. Đây là nguồn thức ăn và năng lượng khởi đầu cho toàn bộ chuỗi thức ăn trên hành tinh; Carbon tích tụ trong xác sinh vật qua hàng triệu năm tạo thành than đá, dầu mỏ và khí đốt, giúp lưu giữ nguồn năng lượng quan trọng cho sự phát triển của nhân loại; Carbon hòa tan trong đại dương giúp hình thành vỏ sò, san hô và điều hòa độ pH của nước biển, bảo vệ đa dạng sinh học dưới nước.
Tuy nhiên, tác động tiêu cực cho môi trường khi khí Carbon dư thừa sẽ là hiệu ứng nhà kính, do lượng khí CO2 quá cao sẽ ngăn cản sự thoát nhiệt từ bề mặt Trái đất qua bầu khí quyển làm Trái đất nóng lên; tan băng và nước biển dâng, làm gia tăng tần suất bão lũ, hạn hán; sóng nhiệt xảy ra với cường độ mạnh và tần suất dày đặc hơn và làm suy giảm đa dạng sinh học; đại dương hấp thụ CO2 dư thừa, làm giảm độ pH của nước biển. Quá trình axit hóa này phá hủy các rạn san hô và gây khó khăn cho các loài sinh vật biển (như tôm, cua, ốc) trong việc tạo vỏ, làm mất cân bằng chuỗi thức ăn dưới nước. Từ những nguyên nhân đó, kéo theo chi phí khắc phục thiên tai và hạ tầng bị phá hủy là rất lớn. Hiện nay, các thị trường lớn như (EU), bắt đầu áp dụng thuế Carbon đối với hàng hóa nhập khẩu, gây áp lực lên các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường này, trong đó có Việt Nam.
![]() |
| Hình minh họa |
Thực trạng khí thải Carbon tại Việt Nam
Lượng phát thải CO2 của Việt Nam có xu hướng tăng nhanh trong thập kỷ qua. Trong giai đoạn 2008 - 2018, mức tăng trung bình đạt 8,5%/năm, cao gấp gần 8 lần mức tăng trung bình toàn cầu. Tính đến năm 2019, lượng phát thải CO2 bình quân đầu người tại Việt Nam đạt khoảng 3,488 tấn/người. Mặc dù vẫn thấp hơn mức trung bình toàn cầu (khoảng 4,7 tấn/người), nhưng khoảng cách này đang dần thu hẹp.
Lượng phát thải khí nhà kính ở Việt Nam, tập trung vào 4 nhóm ngành chính gồm: Năng lượng, chiếm tỷ trọng lớn nhất do sự phụ thuộc vào điện than và nhiên liệu hóa thạch, trong sản xuất công nghiệp và giao thông vận tải; Nông nghiệp, phát thải chủ yếu từ hoạt động chăn nuôi, canh tác lúa nước và sử dụng phân bón; Chất thải, Việt Nam thải ra khoảng 60.000 tấn rác sinh hoạt mỗi ngày, với hơn 70% được xử lý bằng phương pháp chôn lấp, gây phát thải khí metan lớn; Sử dụng đất và lâm nghiệp, đây là lĩnh vực có tiềm năng hấp thụ Carbon lớn nhưng cũng đối mặt với thách thức từ việc thay đổi mục đích sử dụng đất.
Cơ hội cho Việt Nam khi đặt chân vào thị trường tín chỉ Carbon
Tín chỉ Carbon (Carbon Credit), bản chất được hiểu như một loại “giấy phép”, cho phép một quốc gia hoặc doanh nghiệp xả thải khí nhà kính vào bầu khí quyển (Một tín chỉ Carbon tương đương với 1 tấn khí CO2, hoặc một loại khí nhà kính khác tương đương). Việt Nam sở hữu khá lợi thế chiến lược và tự nhiên quan trọng khi tham gia vào thị trường Carbon toàn cầu, bởi với diện tích rừng che phủ hơn 42%, Việt Nam có khả năng tạo ra lượng lớn tín chỉ Carbon từ các dự án bảo vệ và phát triển rừng. Ngoài ra, đường bờ biển dài tạo lợi thế cho Carbon xanh (hấp thụ từ rừng ngập mặn và hệ sinh thái biển).
![]() |
| Hình minh họa |
Việt Nam đang xây dựng hành lang pháp lý để thương mại hóa tín chỉ Carbon thông qua việc ban hành các quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và thiết lập lộ trình vận hành thị trường Carbon nội địa. Được đánh giá là có tiềm năng rất lớn về “Carbon xanh” (hấp thụ từ rừng và hệ sinh thái biển), hướng tới mục tiêu đạt 3 triệu tấn CO2 từ nguồn này, Việt Nam cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050 và đồng bộ triển khai các quy định về kiểm kê khí nhà kính đối với các cơ sở sản xuất lớn. Thêm vào đó, năm 2025 Việt Nam bắt đầu thí điểm vận hành sàn giao dịch tín chỉ Carbon và năm 2028 sẽ chính thức đi vào hoạt động.
Là một quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới, Việt Nam có tiềm năng khổng lồ trong việc giảm phát thải từ canh tác lúa nước phát thải thấp và quản lý chất thải chăn nuôi. Cùng với đó, sự phát triển mạnh mẽ của điện mặt trời và điện gió giúp Việt Nam dễ dàng chuyển đổi và tạo ra các tín chỉ Carbon từ việc thay thế năng lượng hóa thạch. So với nhiều quốc gia phát triển, chi phí để thực hiện một đơn vị giảm phát thải tại Việt Nam thấp hơn, giúp tín chỉ Carbon của Việt Nam có tính cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế, khi so sánh về mặt giá cả. Việc tận dụng tốt các lợi thế này không chỉ mang lại nguồn thu tài chính mới mà còn giúp doanh nghiệp Việt tránh được các rào cản thương mại xanh như cơ chế CBAM (thuế Carbon) của EU.
Những rào cản với Việt Nam khi tiếp cận thị trường tín chỉ Carbon
Việt Nam có trên 42% tỷ lệ rừng che phủ, việc bán tín chỉ Carbon rừng không chỉ mang lại nguồn thu về tài chính, mà còn giúp bảo tồn đa dạng sinh học. Tuy nhiên, khó khăn nằm ở quyền sở hữu tín chỉ, bởi rừng thuộc sở hữu nhà nước nhưng giao cho người dân quản lý, như vậy quyền sở hữu tín chỉ cũng đang là khâu cần có giải pháp phù hợp, giúp đảm bảo quyền lợi cho người dân, đồng thời vẫn giữ ổn định kế hoạch kiểm soát phát thải khí CO2.
Từ năm 2026, các ngành thép, xi măng, nhôm, phân bón, khi xuất khẩu sang EU sẽ phải trả thuế Carbon. Đây là yếu tố làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa, đồng thời tạo sức ép lên doanh nghiệp trong quá trình tái đầu tư, mở rộng sản xuất. Việt Nam là đất nước đang phát triển, dư địa của các loại hàng hóa này ở thị trường nội địa còn rất nhiều. Khi đó, các doanh nghiệp sẽ đóng thuế tại Việt Nam, giữ lại dòng tiền trong nước để tái đầu tư vào công nghệ xanh.
Giá tín chỉ Carbon trên thế giới biến động rất lớn (từ 5 USD đến gần 100 USD tùy loại hình và thị trường). Việt Nam cần một sàn giao dịch minh bạch để tránh tình trạng “bán lúa non” – nghĩa là bán tín chỉ với giá rẻ ở giai đoạn hiện tại; trong quá trình phát triển, nhu cầu sử dụng tín chỉ ngày càng nhiều để bù đắp phát thải do tăng trưởng, chúng ta sẽ phải mua lại với giá cao.
Tin mới
Nghiên cứu thiết kế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho thị trường tín chỉ đa dạng sinh học tại Việt Nam
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Bệnh viện Hữu Nghị nhân kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam
TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.

