Công nghiệp môi trường dẫn dắt tiến trình phát triển kinh tế tuần hoàn

31/03/2026 15:37 Nghiên cứu trong nước
Trong lộ trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero vào năm 2050, kinh tế tuần hoàn không chỉ là một giải pháp môi trường mà đã trở thành trụ cột chiến lược của mô hình tăng trưởng mới. Tuy nhiên, để vòng lặp tuần hoàn có thể vận hành trơn tru, ngành Công nghiệp Môi trường chính là bộ máy hạ tầng kỹ thuật then chốt, biến những khái niệm lý thuyết thành giá trị kinh tế thực thụ.

Nền kinh tế tuyến tính truyền thống, đã thống trị thế giới hàng nhiều thập kỷ, dựa trên một quy trình bất biến gồm “khai thác - sản xuất - thải bỏ”, đang có xu thế dịch chuyển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Trong mô hình này, Công nghiệp môi trường (CNMT) thường chỉ được xem là ngành “dọn dẹp” ở công đoạn cuối của quy trình. Tuy nhiên, với một nền kinh tế xanh - kinh tế tuần hoàn (KTTH), vai trò của CNMT đã trở thành những mắt xích, kết nối hạ tầng các điểm đầu và điểm cuối của cả chuỗi giá trị.

Công nghiệp môi trường dẫn dắt tiến trình phát triển kinh tế tuần hoàn
Hình

Sự dịch chuyển vai trò của ngành Công nghiệp môi trường

Thay vì trước đây chỉ chuyên trách trong vai trò xử lý ở công đoạn cuối, ngành CNMT đã chủ động hỗ trợ các ngành sản xuất khác, tối ưu hóa vật liệu, kỹ thuật ngay trong các công đoạn sản xuất, như vừa tham gia một phần vào quy trình sản xuất vừa tiếp nhận và xử lý rác thải. Hàng loạt các công nghệ hiện đại đã được đưa vào khâu tiền sản xuất nhằm giảm thiểu rác thải, giảm tải cho công đoạn cuối. Đây là quá trình dùng công nghệ để tính toán trước cái kết của sản phẩm.

Ví dụ như thay vì sử dụng các nguyên liệu hóa thạch, để tạo ra các sản phẩm nhựa phục vụ tiêu dùng hàng ngày, hiện nay các loại nhựa phân hủy sinh học, vật liệu nano từ phụ phẩm nông nghiệp (như sợi dứa, vỏ trấu) để thay thế nhựa gốc dầu mỏ, đã giúp giảm tải cho môi trường; Một số doanh nghiệp đã cho ra các phần mềm mô phỏng (LCA - Life Cycle Assessment), cung cấp công cụ đánh giá vòng đời sản phẩm, giúp nhà sản xuất biết chính xác một chiếc điện thoại, một cái áo, hay đôi giày sẽ tốn bao nhiêu nước, phát thải bao nhiêu khí CO2 và có bao nhiêu % tái chế được sau khi hết thời hạn sử dụng;

Một số các nghiên cứu cải tiến kỹ thuật đã giúp sản phẩm không dùng keo dính vĩnh viễn, mà dùng các khớp nối thông minh, để việc bóc tách, tháo dỡ linh kiện ở giai đoạn cuối trở nên dễ dàng và ít tốn năng lượng hơn; các thiết kế đã biến rác thải điện tử, nhựa, và phế liệu kim loại thành nguyên liệu thô thứ cấp, giúp kéo dài vòng đời vật chất của phế thải thông qua các công nghệ tái chế chuyên sâu và phục hồi vật liệu, để tiếp tục sử dụng hoặc dùng làm bán thành phẩm, hoàn thiện cho các dòng sản phẩm khác.

Công nghiệp môi trường dẫn dắt tiến trình phát triển kinh tế tuần hoàn
Hình minh họa

CNMT cũng tham gia vào các công đoạn thu hồi vàng, bạc, đồng và đặc biệt là đất hiếm, những nguyên liệu chiến lược cho xe điện và năng lượng tái tạo; với rác thải nhựa không chỉ dừng lại ở việc băm nhỏ, CNMT sử dụng công nghệ hóa học để bẻ gãy các mạch polyme về dạng monomer nguyên thủy, tạo ra nhựa tái chế có chất lượng tương đương 100% nhựa mới; hay việc cải tiến công nghệ trong tận dụng phế liệu kim loại, tại các lò luyện thép hồ quang điện (EAF), các công nghệ hiện đại của ngành CNMT đã giúp tái chế sắt thép vụn với mức phát thải carbon thấp hơn 75%, so với sản xuất từ quặng sắt.

Tại Việt Nam, ngành CNMT không chỉ đóng vai trò “dọn dẹp” ở công đoạn cuối cùng, mà đang dần hình thành các phân khúc hạ tầng quan trọng, nhằm hỗ trợ các ngành công nghiệp trọng điểm như xây dựng, điện tử, dệt may, dựa trên một số khía cạnh chính gồm đầu tư hạ tầng xử lý và tái chế chất thải chuyên biệt; quy hoạch hệ thống xử lý nước thải và khí thải tập trung; tập trung vào lĩnh vực cung ứng năng lượng sạch và nguyên liệu thay thế…

Hạ tầng xử lý và tái chế chất thải rắn

Chương trình phát triển ngành CNMT giai đoạn 2025-2030 đặt mục tiêu đến năm 2030, phát triển công nghệ, thiết bị, sản phẩm công nghiệp xử lý nước thải cung cấp được 70% - 80% nhu cầu trong nước và xuất khẩu; công nghiệp xử lý khí thải đáp ứng mục tiêu cung cấp được 60% - 70% nhu cầu trong nước; công nghiệp xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại đáp ứng mục tiêu 50% - 60% nhu cầu thu gom, vận chuyển, trung chuyển, phân loại và 60% - 70% nhu cầu phân loại, tái chế trong nước. Phát triển thiết bị đo lường, giám sát môi trường đáp ứng mục tiêu cung cấp 20% nhu cầu trong nước.

Các mô hình như đốt rác phát điện (Waste-to-Energy) tại Bắc Ninh, vừa giảm diện tích chôn lấp vừa tạo ra năng lượng tái tạo, hay hệ thống thu hồi sản phẩm sau tiêu dùng của Công ty TNHH Sản xuất hàng tiêu dùng Bình Tiên (Biti’s) là những minh chứng điển hình cho việc biến rác thải thành tài sản, là nền tảng cốt lõi để chuyển đổi từ mô hình “khai thác - sản xuất - thải bỏ” sang kinh tế tuần hoàn. Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) buộc các doanh nghiệp như Biti’s phải thiết lập hệ thống thu hồi và tái chế sản phẩm cũ. Điều này giúp giảm áp lực lên hệ thống rác thải đô thị và tạo nguồn nguyên liệu đầu vào bền vững cho chính doanh nghiệp.

Hiện Việt Nam có khoảng 1.700 cơ sở xử lý chất thải rắn, bao gồm hơn 470 lò đốt và 1.200 bãi chôn lấp. Mục tiêu đến năm 2030, công nghệ và thiết bị tái chế nội địa phải đáp ứng 60-70% nhu cầu. Một số điểm sáng như: Nhà máy xử lý chất thải rắn thu hồi năng lượng cao, công suất 180 tấn/ngày tại Bắc Ninh; Nhà máy điện rác Sóc Sơn (Hà Nội), là cơ sở lớn nhất với công suất xử lý lên tới 4.000 tấn/ngày.

Công nghiệp môi trường dẫn dắt tiến trình phát triển kinh tế tuần hoàn
Hình minh họa

Hệ sinh thái Khu công nghiệp sinh thái (KCNST)

KCNST đóng vai trò như những “phòng thí nghiệm thể chế”, nơi hạ tầng CNMT biến rác thải của nhà máy này trở thành nguyên liệu đầu vào cho nhà máy kia, nơi kết nối cộng sinh trong công nghiệp và tối ưu hóa tài nguyên giữa các nhà máy. KCNST tạo hạ tầng cho các nhà máy trong trao đổi phụ phẩm, nước thải và năng lượng dư thừa. Ví dụ: nước thải sau xử lý tập trung được tái sử dụng để tưới cây hoặc làm mát máy móc.

Để được công nhận là KCNST, ít nhất 10% doanh nghiệp trong khu phải tham gia vào các liên kết cộng sinh công nghiệp. Đồng thời, diện tích cho công trình xanh phải đạt tối thiểu 25%. Hiện Hà Nội và các tỉnh trọng điểm phía Nam đang mạnh mẽ chuyển đổi các khu công nghiệp truyền thống sang mô hình sinh thái để tăng sức cạnh tranh và thu hút vốn FDI xanh.

Hệ thống quan trắc và dữ liệu số

Ngày 26/2/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có Công văn số 1753/BNNMT-KHCN gửi Bộ Công an về việc kết nối, đồng bộ dữ liệu từ Bộ lên Trung tâm Dữ liệu quốc gia. Đây là bước đi quan trọng nhằm hiện thực hóa Chiến lược dữ liệu ngành đến năm 2045. Đây là hạ tầng “mềm” giúp minh bạch hóa dòng luân chuyển vật chất và giám sát phát thải theo thời gian thực; là “bộ não” của ngành CNMT, giúp quản lý thông minh thông qua công nghệ AI và IoT.

Tính đến tháng 5/2025, 92% các khu công nghiệp đang hoạt động trên cả nước đã lắp đặt hệ thống xử lý nước thải tập trung, có kết nối dữ liệu quan trắc tự động về các Sở TN&MT địa phương. Hệ thống dữ liệu giúp theo dõi lộ trình của chất thải từ nguồn phát sinh đến điểm xử lý cuối cùng, ngăn chặn việc đổ thải trái phép. Các nền tảng số hiện nay đã kết hợp công nghệ AI, cho phép doanh nghiệp theo dõi và báo cáo tín chỉ Carbon, hỗ trợ đạt mục tiêu Net Zero thông qua các giải pháp như EIP Vietnam

Sự bứt phá của toàn ngành CNMT được thúc đẩy mạnh mẽ bởi Luật Bảo vệ môi trường 2020 và cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR). Việc Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển ngành CNMT giai đoạn 2025-2030 đã chính thức xác lập vị thế của CNMT là một ngành kinh tế độc lập. Cơ chế EPR buộc các nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm về sản phẩm đến tận khâu thải bỏ, tạo ra nhu cầu khổng lồ cho các dịch vụ thu gom và tái chế chuyên nghiệp. Đây chính là “cú huých” để dòng vốn xanh đổ vào hạ tầng CNMT, biến lĩnh vực này từ một dịch vụ tuân thủ hành chính, thành một ngành có mức độ tích lũy vốn và công nghệ cao.

Công nghiệp môi trường dẫn dắt tiến trình phát triển kinh tế tuần hoàn
Hình minh họa

Những nút thắt cần tháo gỡ giúp phát triển ngành CNMT

Đứng trước cơ hội và vai trò mới, với tiềm năng rất lớn đang ở phía trước con đường, “cỗ máy hạ tầng” này vẫn đối mặt với những nút thắt về vốn, công nghệ nội địa và nguồn nhân lực chất lượng cao. Để ngành CNMT thực sự dẫn dắt KTTH, chúng ta cần tập trung vào việc làm chủ công nghệ, giảm dần sự phụ thuộc vào thiết bị ngoại nhập và đẩy mạnh nội địa hóa thiết bị xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn.

Song song với đó, nguồn tín dụng xanh là một nút thắt cần tháo gỡ giúp các doanh nghiệp CNMT dễ dàng tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, thông qua việc xây dựng danh mục phân loại xanh, tạo tiền đề để công cụ pháp lý thiết lập hàng rào cho doanh nghiệp CNMT vận hành. Khi có cơ chế tín dụng riêng, doanh nghiệp CNMT sẽ được hưởng lãi suất ưu đãi thấp hơn so với vay thương mại. Ngoài ra việc đồng bộ hóa hạ tầng, tạo cơ chế phát triển các trung tâm tái chế quy mô lớn ở những vị trị địa lý thuận lợi, giúp tối ưu hóa chi phí vận hành.

Hiện nay, ngành công nghiệp môi trường không còn là một thành phần phụ trợ của nền kinh tế. Với tư cách là “cỗ máy hạ tầng”, CNMT đang kiến tạo nền tảng vững chắc để vòng lặp tuần hoàn vận hành hiệu quả, đưa Việt Nam tiến gần hơn tới kỷ nguyên của tri thức xanh và phát triển bền vững. Chỉ khi làm chủ được công nghệ, khơi thông được dòng vốn và đồng bộ được hạ tầng, ngành Công nghiệp Môi trường mới thực sự thoát khỏi vai trò xử lý công đoạn cuối, để đóng vai trò kiến tạo cho một nền kinh tế xanh, bền vững.

Vũ Chiến
Xin chờ trong giây lát...

TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT

Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.

Phiên bản di động