Kiến tạo nền tảng tri thức lâu dài cho một Việt Nam phát triển nhanh và bền vững
![]() |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết về việc xác định rõ mục tiêu phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản trong giai đoạn mới tại buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày 25/5/2026 - Ảnh: TTXVN |
Tại buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày 25/5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết về việc xác định rõ mục tiêu phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản trong giai đoạn mới. Mục tiêu này nhằm bảo đảm vừa xử lý dứt điểm các điểm nghẽn trước mắt, vừa kiến tạo nền tảng tri thức lâu dài cho sự bứt phá của đất nước.
Thế giới đang bước vào một giai đoạn cạnh tranh chiến lược mới sâu sắc hơn. Nếu như trước đây, các quốc gia cạnh tranh chủ yếu về tài nguyên, vốn, lao động và thị trường, thì hiện nay, tâm điểm cạnh tranh đã dịch chuyển sang năng lực tạo ra tri thức mới, công nghệ lõi mới, mô hình phát triển mới và năng lực tổ chức đổi mới sáng tạo. Những lĩnh vực đang định hình tương lai nhân loại - như trí tuệ nhân tạo (AI), chất bán dẫn, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng mới, công nghệ dữ liệu và bảo vệ môi trường bền vững - đều là quả ngọt từ các nghiên cứu cơ bản được đầu tư liên tục, bài bản suốt nhiều thập kỷ. Và thực tiễn cũng đã chứng minh, nghiên cứu cơ bản mạnh thì mới có công nghệ lõi mạnh, tạo nên năng lực tự chủ chiến lược và sức cạnh tranh quốc gia bền vững trong dài hạn.
Đối với nước ta, mô hình tăng trưởng hiện tại vẫn còn phụ thuộc lớn vào gia công, lắp ráp, khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ. Để hiện thực hóa khát vọng trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam buộc phải chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, văn hóa và con người. Trong đó, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được xác định là đột phá quan trọng hàng đầu.
Từ nhận thức lý luận đến hành động thực tiễn, một bước chuyển quan trọng trong tư duy chiến lược của Đảng và Nhà nước hiện nay là nhìn nhận khoa học cơ bản không còn là hoạt động học thuật chuyên sâu, thuần túy mang tính đóng khung tại các viện nghiên cứu, trường đại học. Giờ đây, khoa học cơ bản được xác định là nền móng tri thức của quốc gia. Là cơ sở để hình thành các công nghệ lõi và nguồn nhân lực tinh hoa. Và là điểm tựa nâng cao năng lực dự báo chiến lược, năng lực hoạch định chính sách và tự chủ phát triển.
Bên cạnh khoa học tự nhiên, vai trò của khoa học xã hội và nhân văn cũng được định vị ở tầm cao mới. Nếu khoa học tự nhiên và công nghệ tạo nền tảng cho năng lực sản xuất, thì khoa học xã hội và nhân văn tạo nền tảng cho năng lực lãnh đạo, quản trị, xây dựng thể chế, phát triển văn hóa, con người và giữ vững ổn định xã hội. Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định: “Một quốc gia có thể nhập khẩu công nghệ, nhưng không thể nhập khẩu mô hình phát triển phù hợp với lịch sử, văn hóa và điều kiện của chính mình”.
Để hiện thực hóa tầm nhìn này, một lộ trình rõ ràng đã được vạch ra. Cụ thể, đến năm 2030 là giai đoạn hình thành hệ sinh thái nghiên cứu cơ bản quốc gia tương đối đồng bộ; xây dựng các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, nhóm nghiên cứu mạnh; xác lập cơ chế tài chính đặc thù, tài trợ đa niên (5-10-15 năm) và cơ chế hậu kiểm, chấp nhận rủi ro khoa học.
Đến năm 2045, hình thành các lĩnh vực khoa học cơ bản có năng lực cạnh tranh quốc tế, từng bước xác lập các “trường phái khoa học Việt Nam” và nâng cao năng lực tự chủ ở các công nghệ chiến lược.
Để biến quan điểm thành kết quả thực tế, Bộ Chính trị giao Đảng ủy Chính phủ chủ trì, lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thực hiện 9 nhiệm vụ trọng tâm:
- Tháo gỡ khẩn cấp các điểm nghẽn, nút thắt: Giải phóng các rào cản hành chính hóa, xây dựng hành lang pháp lý thông thoáng để các nhà khoa học cống hiến chuyên môn thay vì tốn thời gian cho thủ tục, chứng từ.
- Xây dựng Chiến lược quốc gia về phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản đến năm 2045: Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải; gắn chặt với mục tiêu tự chủ chiến lược và phát triển xanh, bền vững.
- Thành lập Quỹ nghiên cứu cơ bản quốc gia đa niên: Vận hành theo nguyên tắc cạnh tranh, minh bạch; tài trợ dài hạn từ 5 đến 15 năm cho các nhóm nghiên cứu mạnh, chương trình sau tiến sĩ và chấp nhận rủi ro trong khoa học.
- Cơ chế tài chính đặc thù cho khoa học xã hội và nhân văn: Coi đây là khoản đầu tư công chiến lược cho sức mạnh mềm quốc gia; cấp ngân sách nền ổn định, không áp dụng máy móc tư duy thương mại hóa.
- Triển khai Chương trình quốc gia về nhân tài khoa học cơ bản: Xây dựng hệ sinh thái đồng bộ từ phát hiện sớm, đào tạo tinh hoa đến trọng dụng chuyên gia đầu ngành và thu hút mạnh mẽ trí thức Việt Nam toàn cầu.
- Xây dựng hệ thống dữ liệu khoa học và dữ liệu xã hội quốc gia: Khẳng định dữ liệu là hạ tầng chiến lược của nghiên cứu cơ bản trong thời đại AI, đặc biệt là dữ liệu về sinh học, vật liệu, biến đổi khí hậu, năng lượng và dữ liệu văn hóa - xã hội.
- Tái cấu trúc hai Viện Hàn lâm quốc gia: Định vị đây là các thiết chế tri thức chiến lược của Trung ương. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tập trung vào công nghệ nền tảng, AI, vật liệu, sinh học, môi trường, năng lượng; Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tập trung vào lý luận, thể chế và dự báo chiến lược.
- Ban hành chuẩn liêm chính khoa học quốc gia: Kiên quyết xử lý nghiêm gian lận học thuật, ngụy tạo dữ liệu, đạo văn và bệnh thành tích, kiến tạo môi trường học thuật trung thực, tôn trọng chất lượng thực chất.
- Thiết lập cơ chế đặt hàng nghiên cứu phục vụ chính sách: Xuất phát từ các "bài toán lớn" của đất nước (kinh tế số, quản trị AI, già hóa dân số, mô hình phát triển bền vững...) để làm luận cứ trực tiếp cho việc xây dựng nghị quyết, luật pháp và quy hoạch quốc gia.
Tinh thần xuyên suốt trong Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là tinh thần hành động quyết liệt, đổi mới mạnh mẽ và tư duy dài hạn. Đầu tư cho khoa học cơ bản hôm nay chính là chuẩn bị bệ phóng vững chắc nhất cho tầm vóc, năng lực tự chủ và sự thịnh vượng của dân tộc Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới.
Thanh Hải
THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN - QUẢNG CÁO
Tin mới
TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.
