Quảng Ngãi trước mục tiêu tăng trưởng 10%: Công nghiệp đi cùng chuyển đổi xanh
| Quảng Ngãi: Quyết tâm chuyển hóa lợi thế thành “giá trị thực chất” trở thành cực tăng trưởng miền Trung Khởi công Cầu Trà Khúc 1: Mở rộng không gian phát triển đô thị Quảng Ngãi |
![]() |
| Quảng Ngãi ưu tiên thu hút các dự án công nghiệp sạch, công nghiệp hỗ trợ, năng lượng tái tạo, tuần hoàn chất thải và tiết kiệm năng lượng. |
Trong bối cảnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và phát triển kinh tế tuần hoàn ngày càng trở thành xu hướng, năng lực cạnh tranh của công nghiệp Quảng Ngãi sẽ không chỉ được quyết định bởi quy mô vốn đầu tư mà là làm thế nào để tăng trưởng đi cùng năng suất, công nghệ, hiệu quả sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Từ nền tảng công nghiệp đến mục tiêu tăng trưởng mới
Giai đoạn 2020–2025, công nghiệp tiếp tục là một trong những trụ cột quan trọng của kinh tế Quảng Ngãi. Theo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, năm 2025, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 188.701 tỷ đồng; khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ chiếm khoảng 70,3% GRDP.
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2025 ước đạt 185.401 tỷ đồng, tăng bình quân 10,72%/năm trong giai đoạn 2020–2025. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ lực, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Khu kinh tế Dung Quất cùng hệ thống khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các ngành lọc hóa dầu, luyện kim, cơ khí, năng lượng, chế biến, chế tạo đã tạo nên một không gian sản xuất công nghiệp có quy mô lớn. Nhiều dự án trọng điểm tiếp tục được tỉnh quan tâm hỗ trợ, trong đó có dự án nâng cấp, mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất 2 và các nhà máy điện tuabin khí hỗn hợp Dung Quất I, II, III.
![]() |
| Nền tảng công nghiệp của Quảng Ngãi có quy mô đáng kể với các ngành sản xuất chủ lực và những dự án có khả năng tạo sức lan tỏa lớn |
Theo Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi, đến cuối năm 2025, khu kinh tế và các khu công nghiệp có 348 dự án với 292 doanh nghiệp đang hoạt động. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt khoảng 271.500 tỷ đồng, trong đó lọc hóa dầu đạt 135.732 tỷ đồng, luyện thép đạt 94.212 tỷ đồng.
Kết quả trên cho thấy, nền tảng công nghiệp của Quảng Ngãi có quy mô đáng kể, với các ngành sản xuất chủ lực và những dự án có khả năng tạo sức lan tỏa lớn. Tuy nhiên, quy mô sản xuất càng lớn, yêu cầu về cung ứng năng lượng, sử dụng nước, hạ tầng kỹ thuật, quản lý chất thải và kiểm soát tác động môi trường càng cao.
Mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2025–2030 vì vậy không chỉ đặt ra yêu cầu về tốc độ, mà còn đòi hỏi sự thay đổi về chất lượng tăng trưởng. Theo các mục tiêu được xác định trong Báo cáo chính trị, tỉnh phấn đấu nâng tốc độ tăng năng suất lao động bình quân lên 8,5–9,5%/năm; đến năm 2030, GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 6.900–7.000 USD, tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ chiếm khoảng 75–76% GRDP.
Đây là những mục tiêu gắn kết chặt chẽ với nhau. Muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao, công nghiệp không thể chỉ dựa vào mở rộng công suất hay gia tăng đầu vào. Năng suất lao động, trình độ công nghệ, hiệu quả sử dụng vốn và tài nguyên phải được cải thiện, qua đó tạo ra nhiều giá trị hơn trên cùng một đơn vị nguồn lực.
Chuyển đổi xanh trở thành yêu cầu của năng lực cạnh tranh
Định hướng phát triển công nghiệp theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cũng đặt ra yêu cầu đổi mới cách thức thu hút đầu tư. Việc lựa chọn dự án không chỉ căn cứ vào quy mô vốn mà còn xem xét công nghệ, khả năng sử dụng hiệu quả tài nguyên, mức độ thân thiện với môi trường và khả năng tạo giá trị gia tăng.
Theo định hướng của Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi, tỉnh hướng tới thu hút các dự án có công nghệ tiên tiến, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thân thiện với môi trường; đồng thời hạn chế những dự án tiêu hao nhiều năng lượng, tài nguyên nhưng tạo giá trị gia tăng thấp.
Định hướng này phù hợp với yêu cầu cơ cấu lại mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng.
![]() |
| Định hướng này cũng phù hợp với những gì đang được triển khai tại KKT Dung Quất |
Đối với Quảng Ngãi, điều đó không đồng nghĩa với việc thu hẹp vai trò của các ngành công nghiệp nền tảng như lọc hóa dầu, luyện thép, cơ khí và năng lượng. Vấn đề quan trọng hơn là nâng cấp các ngành hiện hữu, cải tiến công nghệ, giảm tiêu hao nguyên liệu và năng lượng, tận dụng hiệu quả phụ phẩm, đồng thời phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp.
Chuyển đổi xanh, vì vậy, không nên được xem là một nhiệm vụ tách rời hoạt động sản xuất. Khi được triển khai thực chất, đây có thể trở thành một phương thức nâng cao hiệu quả vận hành, tiết giảm chi phí, giảm rủi ro môi trường và củng cố năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thực tế tại Khu kinh tế Dung Quất cho thấy một số doanh nghiệp lớn đã triển khai các giải pháp theo hướng sử dụng hiệu quả tài nguyên và tận dụng dòng vật chất phát sinh trong sản xuất.
Tại Nhà máy lọc dầu Dung Quất, các giải pháp được giới thiệu gồm tái sử dụng nước, thu hồi dầu từ bùn đáy bể và thu hồi lưu huỳnh. Trong khi đó, tại Hòa Phát Dung Quất, việc tận dụng xỉ luyện kim và thu hồi nhiệt dư phục vụ phát điện là những hướng đi góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Những giải pháp trên cho thấy chuyển đổi xanh có thể bắt đầu từ các giải pháp cụ thể ngay trong dây chuyền sản xuất. Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ hiệu quả, cần có các chỉ số định lượng về mức tiết kiệm năng lượng, lượng nước tái sử dụng, khối lượng phụ phẩm được tận dụng và mức giảm chất thải. Việc đo lường kết quả sẽ giúp doanh nghiệp xác định hiệu quả đầu tư, đồng thời tạo cơ sở để nhân rộng những mô hình phù hợp.
Ở phạm vi toàn tỉnh, yêu cầu đặt ra là kết nối các giải pháp tại từng nhà máy với quy hoạch phát triển công nghiệp, đầu tư hạ tầng môi trường và tổ chức không gian sản xuất. Khi các doanh nghiệp có thể tăng cường sử dụng chung hạ tầng, tận dụng phụ phẩm và hình thành các chuỗi liên kết, hiệu quả sử dụng tài nguyên có thể được cải thiện trên quy mô rộng hơn, thay vì chỉ giới hạn trong từng cơ sở sản xuất.
Mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2025–2030, đòi hỏi tỉnh Quảng Ngãi cần có sự huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển. Trong đó, công nghiệp tiếp tục là động lực quan trọng, nhưng hiệu quả của động lực này sẽ phụ thuộc ngày càng lớn vào năng suất, công nghệ, chất lượng đầu tư và khả năng thích ứng với những tiêu chuẩn môi trường mới.
Chuyển đổi xanh vì vậy không chỉ là yêu cầu về môi trường, mà còn là một hướng đi để nâng cao chất lượng tăng trưởng. Khi được cụ thể hóa bằng những giải pháp, đầu tư hạ tầng đồng bộ và cơ chế quản lý phù hợp, đây sẽ là một trong những nền tảng giúp công nghiệp Quảng Ngãi chuyển từ lợi thế về quy mô sang lợi thế về năng suất, giá trị gia tăng và tính bền vững, qua đó đóng góp thiết thực vào mục tiêu trở thành cực tăng trưởng của khu vực miền Trung – Tây Nguyên.
THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN - QUẢNG CÁO
Tin mới
TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.


