Kinh tế biển Quảng Ngãi: Mở dư địa tăng trưởng, giữ nền tảng xanh
| Quảng Ngãi với chiến lược kép cho tăng trưởng công nghiệp và phát triển bền vững Khởi công Cầu Trà Khúc 1: Mở rộng không gian phát triển đô thị Quảng Ngãi |
Cùng với yêu cầu khai thác hiệu quả lợi thế biển, tỉnh cũng đặt ra những mục tiêu cụ thể về quản lý tài nguyên, xử lý chất thải, bảo tồn hệ sinh thái và ứng dụng công nghệ số.
Đưa kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng
Ngày 2/10, tại Hội nghị lần thứ V, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2025–2030 đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ 9 tháng, đồng thời xác định các nhiệm vụ trọng tâm trong những tháng cuối năm.
Theo báo cáo tại hội nghị, GRDP chín tháng ước đạt gần 118 nghìn tỷ đồng, tăng 9,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong bối cảnh tỉnh hướng tới mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2025–2030, việc khai thác hiệu quả các động lực và không gian phát triển mới được đặt ra như một yêu cầu quan trọng.
Trong đó, kinh tế biển là một hướng đi giàu tiềm năng. Với lợi thế về công nghiệp, cảng biển, thủy sản và du lịch ven biển, Quảng Ngãi có điều kiện phát triển nhiều ngành kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ, từ sản xuất công nghiệp, vận tải hàng hóa đến dịch vụ hậu cần và khai thác các giá trị tài nguyên biển.
![]() |
| Hội nghị lần thứ V, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2025–2030 |
Theo đó, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 379/KH-UBND, triển khai Nghị quyết số 12-NQ/TU ngày 20/7/2026 của Tỉnh ủy và Chương trình hành động số 26-CTr/ĐU ngày 9/9/2026 của Đảng ủy UBND tỉnh về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Kế hoạch hướng đến mục tiêu đưa kinh tế biển phát triển nhanh, bền vững và trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế tỉnh; đồng thời gắn khai thác, sử dụng tài nguyên với bảo tồn hệ sinh thái, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao đời sống người dân và giữ vững quốc phòng, an ninh biển, đảo.
Đáng chú ý, tổng giá trị sản phẩm của các xã, phường, đặc khu có biển đóng góp trên 65% tổng giá trị sản phẩm toàn tỉnh. Cùng với đó, tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân từ 10%/năm trở lên; tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số chiếm khoảng 30% GRDP vào năm 2030.
Các chỉ tiêu này cho thấy kinh tế biển được đặt trong mối quan hệ với toàn bộ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chứ không chỉ giới hạn ở những hoạt động khai thác tài nguyên trên biển. Muốn tạo ra đóng góp lớn hơn, các ngành kinh tế biển cần phát triển theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, tăng cường liên kết và ứng dụng công nghệ trong quản lý, sản xuất, kinh doanh.
Kết nối công nghiệp, cảng biển và chuỗi giá trị
Trong không gian kinh tế biển của Quảng Ngãi, Khu kinh tế Dung Quất tiếp tục giữ vai trò quan trọng. Đây là nơi tập trung các ngành công nghiệp nền tảng như lọc hóa dầu, luyện thép, cơ khí và năng lượng, đồng thời có lợi thế về cảng biển phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu nguyên liệu, nhiên liệu, thiết bị và hàng hóa.
Theo định hướng trong Kế hoạch số 379/KH-UBND, tỉnh sẽ thu hút đầu tư có chọn lọc vào Khu kinh tế Dung Quất, ưu tiên các dự án công nghiệp ven biển, dịch vụ logistics gắn với cảng nước sâu, công nghệ hiện đại, năng lượng tái tạo và các lĩnh vực có giá trị cao, thân thiện với môi trường.
Định hướng này đặt ra yêu cầu phát triển công nghiệp và cảng biển theo hướng gắn kết chặt chẽ hơn. Khi hạ tầng cảng, giao thông, kho bãi sau cảng và các khu công nghiệp được kết nối hiệu quả, doanh nghiệp có thể giảm chi phí vận chuyển, nâng cao hiệu quả xuất nhập khẩu và tăng khả năng tham gia vào các chuỗi cung ứng.
![]() |
| Phát triển công nghiệp và cảng biển theo hướng gắn kết chặt chẽ hơn |
Tỉnh cũng định hướng tăng cường liên kết giữa Khu kinh tế Dung Quất, Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y và Khu kinh tế Chu Lai, hướng đến hình thành trung tâm công nghiệp trọng điểm của khu vực và cả nước.
Cùng với việc thúc đẩy hình thành Trung tâm Lọc hóa dầu và Năng lượng quốc gia tại Dung Quất, việc phát triển hạ tầng logistics và tăng cường liên kết vùng được kỳ vọng tạo thêm dư địa cho các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
![]() |
| Việc phát triển hạ tầng logistics và tăng cường liên kết vùng được kỳ vọng tạo thêm dư địa cho các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ |
Tuy nhiên, khả năng tạo sức lan tỏa không chỉ phụ thuộc vào quy mô dự án. Hiệu quả sử dụng đất, chất lượng công nghệ, khả năng kết nối với doanh nghiệp trong nước và mức độ đáp ứng các yêu cầu môi trường cũng là những yếu tố cần được tính đến trong quá trình lựa chọn đầu tư.
Đối với một khu kinh tế ven biển có mật độ hoạt động công nghiệp lớn, đầu tư hạ tầng môi trường phải đi cùng tiến độ phát triển sản xuất. Kế hoạch số 379/KH-UBND đặt mục tiêu 100% khu công nghiệp ven biển thuộc Khu kinh tế Dung Quất khi đi vào hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung, vận hành ổn định và đáp ứng quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường theo quy định.
Hệ thống xử lý nước thải không chỉ giúp kiểm soát nguy cơ ô nhiễm mà còn là điều kiện để khu công nghiệp duy trì hoạt động ổn định, nâng cao năng lực tiếp nhận dự án và bảo đảm trách nhiệm môi trường của các cơ sở sản xuất.
Cùng với hạ tầng xử lý nước thải, yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên, kiểm soát các dự án đầu tư ven biển, tăng cường quan trắc và giám sát môi trường cũng cần được triển khai đồng bộ. Đây là cơ sở để hạn chế xung đột giữa các mục đích sử dụng không gian biển, bảo đảm hoạt động kinh tế không làm suy giảm các hệ sinh thái và sinh kế của cộng đồng ven biển.
Công nghệ số và kinh tế xanh mở hướng phát triển mới
Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu tối thiểu 60% doanh nghiệp hoạt động trong các ngành kinh tế biển ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn hoặc Internet vạn vật (IoT) trong quản trị, sản xuất và kinh doanh.
Với doanh nghiệp công nghiệp, cảng biển và logistics, ứng dụng công nghệ có thể hỗ trợ quản lý vận hành, theo dõi dòng hàng hóa, sử dụng năng lượng hiệu quả và nâng cao khả năng kiểm soát các rủi ro trong sản xuất. Trong quản lý tài nguyên biển, công nghệ số còn có thể hỗ trợ quan trắc, giám sát, dự báo môi trường, quản lý hoạt động khai thác và theo dõi diễn biến của các hệ sinh thái.
Kế hoạch cũng đưa ra định hướng triển khai hệ thống quản trị, giám sát môi trường trên nền tảng số tại khu kinh tế, khu công nghiệp và cảng biển. Nếu được đầu tư và vận hành hiệu quả, hệ thống này có thể góp phần nâng cao chất lượng dữ liệu phục vụ quản lý, hỗ trợ phát hiện sớm nguy cơ môi trường và tăng tính chủ động trong xử lý sự cố.
Song song với công nghiệp và logistics, du lịch biển, nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản hợp pháp và năng lượng tái tạo cũng được xác định là những lĩnh vực cần tiếp tục phát triển. Việc đa dạng hóa các ngành kinh tế biển có thể tạo thêm việc làm, mở rộng sinh kế và giảm sự phụ thuộc vào một số ngành sản xuất chủ lực.
Tuy nhiên, mỗi lĩnh vực đều cần được phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên, khả năng phục hồi của hệ sinh thái và nhu cầu sử dụng không gian biển. Quy hoạch và phân vùng chức năng biển vì vậy có vai trò quan trọng trong việc xác định khu vực dành cho công nghiệp, cảng biển, du lịch, thủy sản và bảo tồn; hạn chế những xung đột có thể phát sinh trong quá trình khai thác.
Phát triển kinh tế biển chỉ có thể bền vững khi nguồn tài nguyên và hệ sinh thái tiếp tục được duy trì. Đây cũng là nội dung được cụ thể hóa bằng các mục tiêu về môi trường trong Kế hoạch số 379/KH-UBND.
Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu có 98% chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt chuẩn; 95% chất thải rắn sinh hoạt ở đô thị tại các xã, phường có biển được thu gom, xử lý theo quy định.
Đồng thời, định hướng quản lý, bảo vệ và tăng diện tích Khu bảo tồn biển Lý Sơn, các khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, góp phần thực hiện mục tiêu bảo tồn biển ở phạm vi quốc gia.
Đối với đặc khu Lý Sơn, định hướng đến năm 2030 là xây dựng đảo trở thành điểm du lịch sinh thái gắn với phát triển đô thị xanh, thông minh và các căn cứ dịch vụ hậu cần trên biển. Tỉnh đặt mục tiêu tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải sinh hoạt đạt từ 95% trở lên, bảo đảm 100% chất thải y tế được xử lý theo quy định.
![]() |
| Quảng Ngãi đặt mục tiêu đến năm 2030, phát triển Lý Sơn thành điểm du lịch sinh thái gắn với phát triển đô thị xanh, thông minh |
Khi công nghiệp ven biển được phát triển trên nền tảng hạ tầng đồng bộ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ hiệu quả, chất thải được kiểm soát và tài nguyên được sử dụng trong giới hạn phù hợp, kinh tế biển sẽ có điều kiện đóng góp lâu dài cho tăng trưởng của Quảng Ngãi.
Đó cũng là hướng đi để lợi thế biển được chuyển hóa thành sức cạnh tranh, đồng thời bảo đảm môi trường và sinh kế cộng đồng không bị đặt ra ngoài mục tiêu phát triển.
THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN - QUẢNG CÁO
Tin mới
TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.



