PGS. TSKH Chu Việt Cường: Tận tâm, say mê với nghiên cứu khoa học
Luôn có tư duy đổi mới trong nghiên cứu khoa học, không ngừng nỗ lực cố gắng để vươn lên, bởi vậy ông đã công bố thành công nhiều công trình khoa học, góp phần vào sự phát triển ngành Xây dựng và Toán cơ ở Việt Nam. Người mà tôi đang nhắc tới là PGS.TSKH Chu Việt Cường, Ông cũng đã có những đóng góp ở lĩnh vực giáo dục khi tham gia giảng dạy và đào tạo tại Đại học Kỹ Thuật Quân Sự; Trung tâm Toán máy tính – Viện Kỹ thuật Quân sự; Viện cơ học và tin học ứng dụng thành phố Hồ Chí Minh.
Hành trình "lượm nhặt" tri thức nhiều gian nan
Lớn lên trong thời kỳ đất nước đang ngày đêm gồng mình chiến đấu với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược, tuổi thơ của ông trải qua với nhiều khó khăn, mất mát và đau thương. Ông vẫn nhớ ngày ông lên 5 tuổi mẹ ông qua đời do giặc Pháp ném bom, gia đình ông phải đi tản cư khắp nơi. Cuộc sống của ông đã khó khăn, lại càng khó khăn hơn khi năm lên 8 tuổi, bố ông mắc bệnh hiểm nghèo qua đời để ông và em gái ở lại. Sau đó, ông và em gái được gửi vào Trại nhi đồng Trung ương ở Khe Khao.
Năm 1951, cũng là lúc quá tuổi ở trại Nhi Đồng, Chu Việt Cường nhận quyết định chuyển sang Nam Ninh (Trung Quốc) học trường cấp một. Được tiếp xúc với tri thức, ông cảm thấy bản thân mình may mắn, nên những năm học tại đây, ông luôn cố gắng học tập và đạt được nhiều thành tích tốt. Học hết học kỳ I lớp 8, trường cấp 3 khu học xá giải thể, ông trở về nước tiếp tục học cấp 3, sống cùng cậu họ ở Thành Phố Nam Định. Vốn là người có tố chất thông minh, học đến đâu đều nhớ đến đó, sau khi tốt nghiệp lớp 10 ông được nhận giải thưởng của nhà trường, tỉnh Đoàn Nam Định và được chọn sang Liên Xô theo học tại trường Đại học Xây dựng Kiep. Dù được theo học ngành Xây dựng nhưng ông vẫn luôn có ước mong được học các ngành khoa học cơ bản nên từ năm thứ hai, ban ngày ông đi học tại trường Đại học Xây dựng, tối đến ông lại dành thời gian theo học chương trình toán cơ của Đại học Tổng hợp. Tháng 12/1966, ông tốt nghiệp với tấm bằng loại ưu trở về nước, viết đơn xin nhập ngũ và được điều về Binh chủng Công Binh công tác tại Phòng Công trình, ông bắt đầu đến với con đường nghiên cứu khoa học từ khi ấy.
Những nghiên cứu khoa học được ứng dụng vào thực tiễn
Ngay từ khi bước chân vào con đường nghiên cứu khoa học, ông đã gặp không ít những khó khăn về điều kiện trang thiết bị kỹ thuật còn hạn chế. Ông vận dụng hết kiến thức bản thân về chuyên ngành Xây dựng và Toán cơ. Cùng với sự tìm hiểu, nghiên cứu, học hỏi thêm kinh nghiệm từ những người đi trước, ông đã nhanh chóng đưa ra được các giải pháp, định hướng áp dụng vào thực hiện những tính toán phức tạp chống bom đạn, thiết kế công trình phòng thủ trọng điểm, trong đó có đường hầm máy bay khẩu độ rộng và các công trình bảo vệ Bác Hồ, Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh. Với những kết quả nghiên cứu này, ông và tập thể một số cán bộ của phòng Công trình Bộ tư lệnh Công binh đã được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước về Khoa học Công nghệ năm 2005. Đây là một niềm tự hào mà ít nhà khoa học, tập thể cán bộ nghiên cứu có được. Năm 1970, Cục cán bộ Bộ quốc phòng điều ông về giảng dạy tại Khoa Công trình Đại học Kỹ thuật Quân sự (nay là Học viện Kỹ thuật Quân sự). Năm 1973, ông sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh và trở về nước vào năm 1976, ông được chuyển về công tác tại Trung tâm Toán Máy tính của Bộ Quốc phòng. Tháng 6/1990, ông tiếp tục bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ khoa học (bậc 2) tại Chi nhánh Viễn Đông của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô ở TP Vla-đi-vas-tôc (Blaguboctok).
Dường như các hướng nghiên cứu của TSKH Chu Việt cường ngày càng được ông mở rộng hơn, khi các đề tài tiếp theo đó đều có những kết quả và cách áp dụng vào thực tiễn riêng biệt. Mỗi một công trình đều mang những giá trị khác nhau góp phần vào việc phát triển chuyên Ngành Xây dựng - Toán cơ và Công nghệ thông tin ở Việt Nam. Hơn 40 năm đi qua có thể nói kho tàng mà PGS.TSKH Chu Việt Cường sở hữu là nhiều đề tài khoa học cấp Bộ, cấp Nhà nước đã đóng góp không nhỏ vào nền khoa học nước nhà như:
“ Nghiên cứ Xây dựng Bộ chương trình xử lý thông số cơ - lý- hóa của mẫu hỗn hợp dầu khí”; “Xây dựng một số phần mềm và thư viện phục vụ thiết kế xây dựng”; “Xây dựng hệ xử lý tin phục vụ tham mưu chỉ huy cấp chiến dịch… Điều đặc biệt hơn năm 1966, ông nghiên cứu thành công đề tài dành cho sinh viên về “Phân tích sai số khi giải phương trình lưỡng điều hòa bằng phương pháp lưới” và Cụm công trình “nghiên cứu giải Pháp KH CN XD CT PT Bảo vệ Tổ quốc 1956 – 1975” đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ năm 2005; Các giải pháp Khoa học BĐ MT và XD công trình bảo vệ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1969 – 1975 (công trình được tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2005). Mặc dù công tác nghiên cứu rất bận rộn, nhưng ông vẫn dành thời gian và hoàn thành tốt công việc giảng dạy của mình. Ông thường tham gia thuyết trình các chuyên đề: “Ứng dụng các phương pháp số bán giải tích của lý thuyết thế vị để khảo sát các bài toán động lực học không dừng” (tiếng Nga) tại Hội thảo chuyên đề Khoa học “Hiện thực hóa phương pháp thế vị trong các bài toán động lực 2 chiều” (tiếng Nga); “Khảo sát bằng phương pháp số dao động của các hệ liên tục theo lý thuyết thế vị" (tiếng Nga) do Hội đồng khoa học Viện hàn lâm khoa học Liên Xô tổ chức tại Cung các nhà bác học Thành phố Leningrad… Với những kinh nghiệm của bản thân, PGS.TSKH Chu Việt Cường đã hướng dẫn 2 luận văn Thạc sĩ, 2 Tiến sĩ và rất nhiều sinh viên làm đồ án tốt nghiệp, đào tạo ra những sinh viên, học viên có trình độ chuyên môn và đạo đức tốt./.
TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.