Ứng dụng công nghệ trong bảo tồn đa dạng sinh học
Vườn quốc gia Vũ Quang có diện tích hơn 57 nghìn ha, được biết đến là một trong những trung tâm đa dạng sinh học bậc nhất của Việt Nam. Tại đây lưu giữ nhiều gen có giá trị về công tác bảo tồn và đặc hữu cho cả Việt Nam và Lào. Trong đó, có những loài đặc trưng, quý hiếm như: sao la, mang lớn, thỏ vằn, cầy vằn, chà vá chân nâu, vượn đen má trắng...
Về đa dạng sinh học, Vườn quốc gia Vũ Quang đã xác định được 1.829 loài thực vật bậc cao thuộc 813 chi với 217 họ; ghi nhận sự góp mặt của 94 loài thú thuộc 26 họ, 315 loài chim, 58 loài bò sát, 31 loài lưỡng cư, 88 loài cá xương, 316 loài bướm, 73 loài kiến và 28 loài nhện. Trong số này có tới 131 loài thực vật, 46 loài thú, 21 loài chim, 20 loài bò sát, 2 loài lưỡng cư và 1 loài cá xương nằm trong Danh lục IUCN và Sách Đỏ Việt Nam cần được ưu tiên bảo tồn.
Với tính đa dạng sinh học và tầm quan trọng trong công tác bảo tồn, tháng 10/2019, tại Hội nghị Các vườn di sản ASEAN (AHP) lần 6 diễn ra tại thành phố Pakse, tỉnh Champasak (CHDCND Lào), Vườn quốc gia Vũ Quang chính thức được Hội đồng AHP, Trung tâm Đa dạng sinh học ASEAN (ACB) tuyên bố và trao danh hiệu “Vườn di sản ASEAN”.
Không chỉ có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, cảnh quan độc đáo, Vườn quốc gia Vũ Quang còn là nơi ghi đậm dấu ấn cuộc khởi nghĩa Cần Vương chống Pháp của Đình nguyên Tiến sỹ Phan Đình Phùng sớm nhất và lớn nhất tại Việt Nam vào cuối thế kỷ thứ XIX. Đây cũng là lợi thế lớn cho Vườn quốc gia Vũ Quang nhằm thu hút các nguồn lực, xây dựng kết cấu hạ tầng phát triển du lịch sinh thái gắn với du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn.
![]() |
| Việc lắp đặt bẫy ảnh giúp Ban quản lý Vườn giám sát, phát hiện nhiều loài động vật quý hiếm |
Cùng với những lợi thế, công tác quản lý bảo vệ rừng, đa dạng sinh học tại Vườn những năm qua gặp nhiều thách thức. Trong đó, địa bàn quản lý rộng lớn, địa hình hiểm trở, bị chia cắt mạnh với nhiều khu vực trọng yếu khó tiếp cận; trong khi đó, lực lượng bảo vệ rừng còn mỏng, trang thiết bị hỗ trợ còn hạn chế. Phương pháp quản lý truyền thống trước đây bộc lộ những độ trễ nhất định: việc theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và giám sát đa dạng sinh học đôi khi chưa được cập nhật kịp thời, thiếu tính hệ thống và dữ liệu khoa học chưa đủ dày để phục vụ các dự báo chiến lược.
Trước tình hình đó, Vườn quốc gia Vũ Quang đã xác định đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo mới là con đường ngắn nhất để vượt qua khó khăn, nâng cao năng lực quản lý. Một trong những kết quả nổi bật của việc ứng dụng công nghệ tại Vườn thời gian qua là triển khai hệ thống bẫy ảnh (Camera trapping) tự động. Đây được xem là “mắt thần” giúp cán bộ lâm nghiệp giám sát động vật hoang dã mà không cần túc trực trực tiếp, giảm thiểu tối đa tác động của con người lên hệ sinh thái.
Với hơn 170 điểm đặt bẫy ảnh theo ô lưới tiêu chuẩn 2,5km2, phủ rộng trên toàn bộ diện tích quản lý, đơn vị đã thu thập được khối lượng dữ liệu đa dạng. Kết quả phân tích không chỉ là những con số mà là bằng chứng sống động về sự giàu có của hệ sinh thái tại Vườn quốc gia Vũ Quang.
![]() |
| 170 điểm đặt bẫy ảnh giúp cán bộ lâm nghiệp giám sát động vật hoang dã mà không cần túc trực trực tiếp, giảm thiểu tối đa tác động của con người lên hệ sinh thái. |
Những dữ liệu này cho phép đơn vị xây dựng bản đồ đa dạng sinh học, xác định mật độ và xác suất hiện diện (PAO) của các loài, từ đó xây dựng các kịch bản bảo vệ nghiêm ngặt đối với vùng lõi và khu vực dọc biên giới Việt - Lào. Đây là cơ sở khoa học đặc biệt quan trọng để đơn vị thu hút các nguồn lực đầu tư, các dự án bảo tồn quốc tế trong tương lai.
Thời gian qua, Vườn quốc gia Vũ Quang đã chuyển đổi mạnh mẽ phương thức tuần tra từ thủ công sang nền tảng số thông qua công nghệ SMART (Spatial Monitoring and Reporting Tool). Trước đây, cán bộ tuần tra phải dùng phiếu giấy và thiết bị GPS rời rạc, thì nay, với thiết bị di động tích hợp SMART Mobile, mọi ghi nhận tại hiện trường như vị trí vi phạm, dấu vết động vật hay hiện trạng rừng đều được số hóa ngay tức thì. Dữ liệu sau đó được truyền trực tiếp vào hệ thống máy tính trung tâm để phân tích.
Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 57, Vườn quốc gia Vũ Quang đã đặt yếu tố nâng cao năng lực cán bộ lên hàng đầu. Đơn vị đã tổ chức nhiều đợt tập huấn chuyên sâu, chuyển đổi tư duy từ làm việc theo kinh nghiệm sang làm việc dựa trên dữ liệu và công nghệ số. Đến nay, đội ngũ cán bộ trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ rừng và nghiên cứu khoa học tại Vườn đã sử dụng thành thạo các phần mềm chuyên dụng...
Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp, trong đó chú trọng ứng dụng khoa học công nghệ đã giúp Ban quản lý Vườn quốc gia Vũ Quang nâng cao hiệu quả công tác giám sát, quản lý bảo vệ rừng, qua đó góp phần gìn giữ đa dạng sinh học tại khu vực.TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.

