Quảng Ngãi: Kết nối giảm phát thải công nghiệp với tiềm năng carbon rừng

21/10/2026 00:00 Kinh tế môi trường
Trong lộ trình chuyển đổi xanh, Quảng Ngãi có thể nghiên cứu kết nối nỗ lực giảm phát thải của doanh nghiệp công nghiệp với tiềm năng hấp thụ, lưu giữ carbon từ rừng. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành giá trị thực tế, cần hoàn thiện dữ liệu, đáp ứng yêu cầu xác minh tín chỉ và xây dựng cơ chế hợp tác minh bạch giữa doanh nghiệp, chủ rừng và cộng đồng.
Công nghệ số tạo nên “Lá chắn thép” bảo vệ rừng tại tỉnh Quảng Ngãi Dung Quất trước bước chuyển xanh: Nâng chất lượng tăng trưởng từ nền tảng công nghiệp

Giảm phát thải phải bắt đầu từ nhà máy

Tại Khu kinh tế Dung Quất, các ngành công nghiệp có nhu cầu năng lượng lớn như lọc hóa dầu, luyện thép vừa đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, vừa đặt ra yêu cầu cao về kiểm soát phát thải khí nhà kính.

Theo thông tin từ Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR), lượng phát thải khí nhà kính của doanh nghiệp vào khoảng 1,6 triệu tấn CO₂ tương đương mỗi năm; khoảng 99% đến từ hoạt động đốt nhiên liệu phục vụ nhiệt và hơi công nghệ. Điều này cho thấy tiết kiệm năng lượng, tối ưu vận hành và chuyển đổi nhiên liệu có vai trò trực tiếp trong giảm phát thải.

Toàn cảnh Nhà máy NLSH Dung Quất đang hoạt động ổn định ở 75% công suất

Khu kinh tế Dung Quất là một trong những trung tâm công nghiệp quan trọng của Quảng Ngãi, đặt ra yêu cầu gắn phát triển sản xuất với sử dụng năng lượng hiệu quả và kiểm soát phát thải khí nhà kính.

BSR cho biết đã triển khai hơn 50 giải pháp tiết kiệm năng lượng và tối ưu hoạt động. Trong khoảng 10 năm, chỉ số cường độ năng lượng (EII) của nhà máy giảm từ khoảng 115% xuống gần 100%. Theo tính toán của doanh nghiệp, mỗi 1% giảm EII có thể giúp tiết kiệm khoảng 2,5–3 triệu USD mỗi năm. Cường độ phát thải khí nhà kính trên mỗi tấn sản phẩm cũng giảm từ 253 kg CO₂ tương đương năm 2022 xuống 225 kg.

Những kết quả này cho thấy giảm phát thải gắn liền với hiệu quả sản xuất và chi phí năng lượng. Bên cạnh tối ưu vận hành, BSR đang nghiên cứu các phương án như phát triển điện mặt trời mái nhà, chuyển đổi nhiên liệu và công nghệ thu giữ, sử dụng carbon (CCUS).

Carbon rừng: Tiềm năng cần được xác minh

Bên cạnh công nghiệp, Quảng Ngãi có nguồn tài nguyên rừng đáng kể. Theo Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi, toàn tỉnh có khoảng 825.851 ha rừng, gồm khoảng 603.997 ha rừng tự nhiên và 221.855 ha rừng trồng. Rừng có vai trò quan trọng trong bảo vệ đa dạng sinh học, giữ đất, giữ nước và hấp thụ, lưu giữ carbon.

Lượng carbon hấp thụ, lưu giữ hằng năm của rừng trên địa bàn được ước tính khoảng 2 triệu tấn. Lượng carbon rừng hấp thụ hoặc lưu giữ không đồng nghĩa với lượng tín chỉ đã được cấp và có thể giao dịch.

Để hình thành tín chỉ, dự án phải đáp ứng phương pháp và tiêu chuẩn áp dụng, có cơ sở xác định lượng hấp thụ hoặc giảm phát thải đủ điều kiện, đồng thời thực hiện các bước đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác minh theo quy định.

Rừng tự nhiên có vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ đất, nguồn nước và hấp thụ, lưu giữ carbon.
Rừng tự nhiên có vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ đất, nguồn nước và hấp thụ, lưu giữ carbon.

Quảng Ngãi đang triển khai công tác kiểm kê rừng, dự kiến có kết quả vào năm 2027. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để cập nhật hiện trạng, đánh giá tiềm năng và lựa chọn khu vực phù hợp để nghiên cứu các dự án carbon.

Tỉnh cũng tham gia sáng kiến LEAF về giảm phát thải tại khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Theo đó, lượng tín chỉ dự kiến phân bổ cho Quảng Ngãi vào khoảng 1,13 triệu tín chỉ.

Một số dự án thí điểm đang được phối hợp với Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam triển khai tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đăk Tô, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kon Rẫy và Ban Quản lý rừng phòng hộ Đăk Hà. Kết quả thực hiện, hồ sơ dự án và các bước thẩm định, xác minh sẽ quyết định khả năng hình thành tín chỉ theo cơ chế áp dụng.

Mở hướng hợp tác giữa doanh nghiệp và chủ rừng

Từ nhu cầu giảm phát thải của doanh nghiệp và tiềm năng carbon rừng, Quảng Ngãi có thể nghiên cứu mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp công nghiệp, chủ rừng và cơ quan quản lý.

Theo ông Mai Tuấn Đạt, Phó Tổng giám đốc BSR, doanh nghiệp mong muốn tham gia thí điểm công tác quản lý, chăm sóc rừng trên địa bàn Khu kinh tế Dung Quất, làm cơ sở nghiên cứu việc sử dụng tín chỉ carbon từ rừng để bù trừ một phần phát thải trong hoạt động sản xuất của Nhà máy lọc dầu Dung Quất.

Đề xuất này mở ra hướng kết nối giữa công nghiệp và lâm nghiệp, song để triển khai cần làm rõ khu vực rừng tham gia, chủ thể quản lý và hưởng lợi, cơ chế tài chính, phương pháp tính toán carbon cũng như điều kiện sử dụng tín chỉ. Việc chia sẻ lợi ích phải minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ rừng, cộng đồng địa phương.

Đồng thời, tín chỉ carbon rừng không thể thay thế yêu cầu giảm phát thải tại nguồn. Đối với doanh nghiệp công nghiệp, ưu tiên vẫn là tiết kiệm năng lượng, cải tiến công nghệ và giảm tiêu hao nhiên liệu. Carbon rừng, nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện, có thể trở thành công cụ bổ trợ trong chiến lược giảm phát thải.

Các hoạt động quản lý, chăm sóc và phục hồi rừng góp phần duy trì khả năng hấp thụ, lưu giữ carbon, đồng thời bảo vệ hệ sinh thái và sinh kế địa phương.
Các hoạt động quản lý, chăm sóc và phục hồi rừng góp phần duy trì khả năng hấp thụ, lưu giữ carbon, đồng thời bảo vệ hệ sinh thái và sinh kế địa phương.

Trước mắt, Quảng Ngãi cần hoàn thiện dữ liệu rừng, rà soát cơ chế pháp lý và lựa chọn mô hình thí điểm khả thi. Khi các điều kiện kỹ thuật, pháp lý và cơ chế chia sẻ lợi ích được bảo đảm, sự kết nối giữa doanh nghiệp và chủ rừng có thể tạo thêm nguồn lực cho bảo vệ, phát triển rừng, đồng thời hỗ trợ lộ trình chuyển đổi xanh của công nghiệp địa phương.

Lê Tới

THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN - QUẢNG CÁO

Xin chờ trong giây lát...

TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT

Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.

Phiên bản di động