Thách thức đối với ngành Công nghiệp môi trường Việt nam
Công nghiệp môi trường là một ngành công nghiệp tạo ra các giá trị gia tăng từ chính việc giải quyết các vấn đề môi trường, đã và đang có những đóng góp thiết thực và hiệu quả cho phát triển theo hướng bền vững, chiếm vị thế quan trọng trong cơ cấu công nghiệp.
Tại Việt Nam, ngành Công nghiệp môi trường không phải là ngành công nghiệp mới xuất hiện, tuy nhiên, sản xuất có liên quan đến định hướng Công nghiệp môi trường thì chỉ mới xuất hiện trong thời gian gần đây. Ts. Phạm Thị Tố Oanh cho biết, nền công nghiệp còn non yếu này hàng năm mới chỉ đáp ứng được 5% tổng nhu cầu xử lý nước thải đô thị, chế biến và tái chế khoảng 15% nhu cầu chất thải rắn và 14% nhu cầu xử lý chất thải nguy hại. Trong đó, riêng giai đoạn 2010-2020 đã có tới 4. 321 doanh nghiệp được thành lập đăng ký hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ môi trường, với tốc độ gia tăng mạnh hàng năm.
![]() |
| Ts. Phạm Thị Tố Oanh |
Từ phân tích thực trạng, Ts. Phạm Thị Tố Oanh chỉ rõ 05 thách thức đối với ngành công nghiệp môi trường ở Việt Nam:
Thứ nhất, đó là nguồn nhân lực. Ngành công nghiệp môi trường ở Việt Nam đã có những hoạt động thiết thực nhưng sự phát triển còn gặp nhiều cản trở về số lượng và chất lượng nhân lực triển khai. Đó là thiếu đội ngũ cán bộ, chuyên gia, kỹ thuật viên giỏi, có trình độ cao, kinh nghiệm, có khả năng nghiên cứu thực tiễn kết hợp lý luận, thiếu nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm quốc tế, thăm quan, học tập để ứng dụng trong điều kiện cơ sở hạ tầng của Việt Nam. Bên cạnh đó, doanh nghiệp công nghiệp môi trường ở Việt Nam chưa thực sự gắn liền với sự phát triển nghiên cứu khoa học, cũng như những thành tựu khoa học công nghệ đạt được trong và ngoài nước. Điều này đã làm cho công nghiệp môi trường giảm đi rất nhiều lợi thế và hướng phát triển thực sự của mình, khiến mức độ lệ thuộc vào các doanh nghiệp nước ngoài càng lớn do càng thiếu động lực và nguồn lực phát triển. Điều đó dẫn đến việc giảm sút đáng kể năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam ngay tại Việt Nam chứ chưa nói đến vươn ra thị trường nước ngoài.
Thứ hai, đó là nhận thức. Còn tư tưởng ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư bằng mọi giá, xem nhẹ yêu cầu bảo vệ môi trường. Quan điểm khoong đánh đổi môi trường lấy phát triển kinh tế chưa được thực hiện triệt để. Ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường của người dân và doanh nghiệp còn nhiều hạn chế; việc thực thi công tác bảo vệ môi trường hiệu quả chưa cao. TS. Phạm Tố Oanh nhấn mạnh, muốn thay đổi nhận thức, xem bảo vệ môi trường là nhiệm vụ trọng tâm, trước hết phải tăng chế tài xử phạt, đồng thời rà soát bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật. Cùng với đó, có thêm chính sách cụ thể khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi từ các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm sang lĩnh vực thân thiện với môi trường và bền vững hơn.
Thứ ba, đó là chính sách. Điểm đầu tiên cần phải nhấn mạnh là công nghiệp môi trường là ngành công nghiệp chịu tác động lớn của chính sách, vì vậy, nó chịu sự chi phối của các định hướng chính sách. Sự phát triển và thành công của ngành công nghiệp trên thế giới, thể hiện qua con số thị phần và giá trị thị trường, đã cho thấy một kinh nghiệm thực tế là trong từng giai đoạn, phải cso được một định hướng phù hợp cho sự phát triển khoa học công nghệ và chính sách xã hội trong ngành công nghiệp môi trường. Hệ thống chính sách pháp luật liên quan đến công tác bảo vệ môi trường còn chồng chéo, bất cập, chưa theo kịp những diễn biến nhanh của các vấn đề môi trường và yêu cầu hội nhập quốc tế.
Các chính sách, chế tài xử lý ô nhiễm môi trường chưa sâu, chưa sát thực tiễn các ngành, lĩnh vực, chưa tác động mạnh đến định hướng sản xuất và đầu tư của các doanh nghiệp, các doanh nghiệp thiên về tập trung sản xuất mà chưa có chú trọng tạo quỹ, dành quỹ cho xử lý hay đầu tư về phòng ngừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Do đó, sẽ tác động lớn tới ngành công nghiệp môi trường.
Ts. Phạm Thị Tố Oanh cho rằng, việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính sách, bao gồm các chính sách thị trường, cơ chế và chính sách đầu tư, cũng như các chính sách hỗ trợ và phát triển khoa học công nghệ cũng cần được tiến hành kịp thời và đồng bộ, nhằm đảm bảo tạo ra thị trường mới, mở, với môi trường đầu tư thích hợp cho doanh nghiệp công nghiệp môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp này với các doanh nghiệp ngoài ngành cả về nguồn lực, năng lực công nghệ, năng lực quản lý.
Thứ tư, đó là tổ chức và kiên kết trong thực hiện. Việc tổ chức thực hiện còn yếu kém, nhất là cấp địa phương, cơ sở, kể cả cấp độ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và quản trị môi trường ở các khu kinh tế, khu công nghiệp, làng nghề. Năng lực phòng ngừa, ứng phó với các sự cố môi trường của các doanh nghiệp ở một số địa phương còn nhiều bất cập.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp công nghiệp môi trường với các đơn vị nghiên cứu khoa học là hướng đi phù hợp hơn là việc phát triển các thành phần nghiên cứu ngay trong doanh nghiệp. Điều này có thể thấy ở hầu hết các quốc gia phát triển, sự liên kết chặt chẽ này đã tận dụng thế mạnh trong nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm mà đặc biệt là ưu thế trong các nghiên cứu tiên tiến trên mọi lĩnh vực của các đơn vị nghiên cứu cũng như ưu thế về tài chính của các doanh nghiệp môi trường. Trong trường hợp này, doanh nghiệp là “người đặt hàng” cho các đơn vị nghiên cứu dựa vào nhu cầu của xã hội. Sự kết hợp này cho phép doanh nghiệp giảm chi phí đầu tư phát triển nghiên cứu khoa học, đồng thời có được các thành quả nghiên cứu mới nhất, cũng như có điều kiện phù hợp nhất ứng dụng kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm vào thực tế, đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Tại Việt Nam hiện nay, mặc dù đã có nhiều chương tình, đề án nghiên cứu phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sản xuất công nghiệp nói chung và Công nghiệp môi trường nói riêng, nhưng thực tế kế thừa thành quả và kết quả của các chương trình và đề án này vào trong các doanh nghiệp môi trường còn rất khiêm tốn. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp thiếu thốn về cơ sở vật chất, nguồn lực nghiên cứu, dẫn đến việc lãng phí thời gian, tài chính và công sức của bản thân doanh nghiệp, nhưng hiệu quả không cao. Đây là một trong những yếu tố cần phải được chú ý hàng đầu trong quy hoạch định hướng phát triển ngành Công nghiệp môi trường ở Việt Nam.
Thứ năm, đó là công nghệ. Công nghệ ứng dụng trong xử lý, phòng ngừa ô nhiễm, thiết bị phù hợp chưa phải là ưu tiên của doanh nghiệp khi đầu tư sản xuất và mở rộng sản xuất. Nhiều ngành nghề thủ công truyền thống có công nghệ lạc hậu, tồn tại trong nhiều làng nghề truyền thống, gắn với bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt công nghệ quá lạc hậu ở những vùng sâu vùng xa; miền núi. Chuyển đổi công nghệ, đưa máy móc thiết bị xử lý môi trường đạt hiệu quả sẽ là bài toán khó trong triển khai hỗ trợ cũng như ứng dụng.
Theo Ts. Phạm Thị Tố Oanh, trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới các doanh nghiệp Công nghiệp môi trường Việt Nam cũng cần hợp tác liên doanh với các doanh nghiệp cùng loại trong khu vực và thế giới để học hỏi kinh nghiệm, giải mã công nghệ nhằm nâng cao năng lực nội địa trong xu thế vừa hợp tác vừa cạnh tranh./.
Tin mới
Tin khác
Nghiên cứu hiện trạng thu gom, tái chế và môi trường tại một số làng nghề tái chế chất thải điện tử ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp
Nghiên cứu sử dụng tro xỉ của lò đốt chất thải rắn sinh hoạt làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng
Nghiên cứu thiết kế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho thị trường tín chỉ đa dạng sinh học tại Việt Nam
TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.
