Phát triển điện rác tại Việt Nam - Để không bị mất cơ hội ngay trên sân nhà

10/09/2025 08:13 Nghiên cứu trong nước
Trong khi các đô thị Việt Nam ngày càng phát sinh nhiều rác thải, công nghệ điện rác (Waste-to-Energy - WtE) đang được coi là một giải pháp kỹ thuật và cũng là cơ hội chiến lược, vừa tận dụng rác thải thành năng lượng, vừa giảm gánh nặng cho đất đai và môi trường. Nhưng nếu không có quyết tâm chính sách, sự minh bạch và quyết định đầu tư đúng thời điểm, chúng ta có thể bỏ lỡ cơ hội ngay trên “sân nhà”.

Ðầu tư mạnh cho dự án điện rác: Việt Nam đã có bước tiến

Thời gian gần đây, nhiều dự án đốt rác phát điện lớn tại Việt Nam đã được phê duyệt hoặc khởi công và đi vào vận hành, cho thấy nhà đầu tư và nhà quản lý bắt đầu nhìn nhận rác thải không đơn thuần là gánh nặng, mà là cơ hội, là “mỏ” tài nguyên năng lượng mới đang chờ để khai thác. Tiêu biểu như: Nhà máy điện rác Sóc Sơn (Hà Nội), công suất xử lý 4.000 tấn/ngày, tổng vốn đầu tư lên tới 7.000 tỷ đồng, phát điện 75 MWh; Dự án Nhà máy điện rác Seraphin (Sơn Tây- Hà Nội), công suất xử lý rác thải sinh hoạt 2.250 tấn/ngày đêm; công suất phát điện 37Mw, tổng mức đầu tư trên 4,8 nghìn tỷ đồng; Nhà máy điện rác Cần Thơ có công suất xử lý 400 tấn/ngày, công suất phát điện 7,5MWh, vốn đầu tư 1.054 tỷ đồng; Nhà máy đốt rác phát điện VietStar (Củ Chi - TP.HCM) đang được triển khai với công suất xử lý 2.000 tấn rác/ngày, tổng mức đầu tư khoảng 3.500 tỉ đồng… và một số dự án khác đang được đề xuất hoặc triển khai ở một số địa phương.

Phát triển điện rác tại Việt Nam - Để không bị mất cơ hội ngay trên sân nhà - Ảnh 1
Nhà máy xử lý rác sinh hoạt phát điện Cần Thơ

Theo báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 98/2023/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, về chuyển đổi công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt có thu hồi năng lượng, tính đến cuối năm 2024, đã có 5 đơn vị đăng ký thực hiện chuyển đổi công nghệ đốt rác phát điện với 5 nhà máy gồm Công ty cổ phần Vietstar, Công ty cổ phần đầu tư Tâm Sinh Nghĩa, Công ty TNHH xử lý chất thải Việt Nam (VWS), Công ty cổ phần Tasco, Công ty TNHH MTV môi trường đô thị TPHCM (Citenco).

Những dấu hiệu này cho thấy WtE đang chuyển từ “ý tưởng môi trường” sang “thương vụ đầu tư” với kinh phí lớn, tham vọng cao, và tiềm năng đóng góp nguồn năng lượng vào lưới điện quốc gia.

Cơ hội vàng mà Việt Nam không thể bỏ lỡ

Nguồn rác đô thị và nhu cầu xử lý rác quá lớn, đó là dư địa khổng lồ cho việc triển khai các dự án biến rác thành điện. Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm soát ô nhiễm môi trường (nay là Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường) khối lượng chất thải rắn phát sinh trên toàn bộ Việt Nam khoảng 25 triệu tấn trong năm 2023 và khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh 67.877tấn/ngày, trong đó đô thị phát sinh 38.143 tấn/ngày, chiếm tỷ lệ 56,2 %; nông thôn phát sinh 29.734 tấn/ngày, chiếm tỷ lệ 43,8%.

Khối lượng rác sinh hoạt khổng lồ đó đang gây áp lực cho hệ thống thu gom - vận chuyển - xử lý. Việc tận dụng rác thải sinh hoạt để phát điện trở thành phương án vừa để xử lý chất thải, vừa tận dụng được nguồn năng lượng.

Phát triển điện rác tại Việt Nam - Để không bị mất cơ hội ngay trên sân nhà - Ảnh 2
Rất nhiều các bãi rác ở khắp nơi trong cả nước đã quá tải

Số liệu của Cục kiểm soát ô nhiễm môi trường năm 2023 cho biết, tỷ lệ các công nghệ xử lý rác sinh hoạt trên toàn quốc được thống kê như sau: Chôn lấp 62,98%; Đốt có phát điện 10,09%; Đốt không phát điện 14,08%; Mùn/phân hữu cơ 12,85% (số lượng lò đốt thống kê trên không kể đến các lò đốt chất thải bệnh viện, chất thải nguy hại).

Cho đến hiện tại, nhiều địa phương đã không thể tiếp tục xử lý chất thải sinh hoạt bằng phương pháp chôn lấp vì tốn nhiều diện tích đất, rủi ro với môi trường rất cao, nhất là ô nhiễm mùi, ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm…

Thực tế cho thấy, nhiều nơi đang tồn đọng hàng ngàn tấn chất thải rắn chờ được xử lý, đòi hỏi các địa phương phải chuyển sang các phương án xử lý chất thải tiên tiến hơn. Điển hình như Thành phố Hồ Chí Minh đã đặt mục tiêu đến năm 2025, có ít nhất 80% rác sinh hoạt được xử lý bằng công nghệ hiện đại như đốt phát điện, tái chế, thay vì chôn lấp truyền thống.

Mặt khác, các địa phương phải thực hiện lộ trình giảm thiểu tỷ lệ chôn lấp trực tiếp chất thải rắn sinh hoạt đô thị theo Quyết định 450/QĐ-TTg ngày 13/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ. Quyết định đã quy định rõ tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được xử lý bằng phương pháp chôn lấp trực tiếp tính đến năm 2025 là dưới 30%, đến năm 2030 sẽ là dưới 10% trên tổng lượng chất thải thu gom được.

Với tốc độ đô thị hóa không ngừng, lượng rác sinh hoạt mỗi ngày ở các thành phố lớn đủ để duy trì nguồn nhiên liệu cho các nhà máy WtE. Chôn lấp không chỉ gây áp lực lên quỹ đất, mà còn tạo mối nguy về môi trường (rò rỉ nước rỉ rác, phát thải methane …). WtE chính là giải pháp kép: giảm khối lượng rác và khử ô nhiễm, đồng thời tạo ra năng lượng phục vụ sản xuất vận hành.

Nhu cầu về năng lượng sạch và ổn định tại Việt Nam đang ngày càng tăng. Với nền kinh tế đang phát triển nhanh, phụ tải điện ngày càng tăng, thủy điện và nhiệt điện đang quá tải, các dự án đầu tư vào năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió đang được đầu tư đẩy mạnh. Trong đó, điện rác cũng là một trong những phương án được quan tâm vì đem lại những lợi ích kép không thể chối bỏ.

Thế giới đang chuyển mạnh sang mô hình kinh tế tuần hoàn, và xu hướng xử lý rác thải hạn chế chôn lấp zero-waste nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn rác thải bằng cách tái cấu trúc hệ thống sản xuất, tiêu thụ và xử lý tài nguyên. Việt Nam nếu chậm chân sẽ trở thành “bãi rác của chính mình”. Làm chủ công nghệ WtE là một bước quan trọng để không chỉ xử lý rác mà tạo giá trị từ rác - điện, nhiệt, tro xỉ tái chế.

Nếu lơ là, sẽ đánh mất cơ hội vào tay “người ngoài”

Dù tiềm năng rõ ràng, điện rác tại Việt Nam đang đứng trước những thách thức và nhiều mối lo, nếu chúng ta không có hành động quyết liệt và đồng bộ.

Đầu tiên phải nói đến đó là công nghệ và thiết bị trong các dự án điện rác tại Việt Nam đang phụ thuộc nhập khẩu. Do thiếu chuỗi cung ứng thiết bị - công nghệ WtE trong nước, các dự án buộc phải nhập thiết bị từ nước ngoài. Chính điều này có thể đẩy giá thành lên cao, giảm lợi nhuận, khiến doanh nghiệp Việt mất lợi thế cạnh tranh so với doanh nghiệp ngoại.

Cơ chế pháp lý, quy hoạch cho các dự án điện rác chưa đồng bộ, còn chồng chéo giữa quản lý chất thải, quản lý điện, đầu tư công nghiệp, dẫn đến thủ tục kéo dài, chi phí phát sinh, làm nản lòng cả nhà đầu tư tư nhân mạnh vốn. Đơn cử như một số dự án đốt rác phát điện tại TP.HCM đang gặp vướng mắc do chưa có quy hoạch WtE cụ thể hoặc không nằm trong quy hoạch nguồn điện quốc gia khiến tiến độ bị chậm trễ.

Phát triển điện rác tại Việt Nam - Để không bị mất cơ hội ngay trên sân nhà - Ảnh 3
Nhà máy điện rác Sóc Sơn (TP Hà Nội) do Công ty CP Năng lượng Môi trường Thiên Ý quản lý và vận hành

Trong bài phát biểu tham luận tại hội thảo “Cơ chế chính sách nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt trong giai đoạn thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp”, PGS.TS Nguyễn Lâm Quảng - Viện Môi trường và Công nghiệp Việt Nam cho biết: Việc phát triển điện rác tại Việt Nam còn thiếu hành lang pháp lý rõ ràng. Hiện chưa có cơ chế riêng cho việc lựa chọn nhà đầu tư và ký kết hợp đồng dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt, vốn là đặc thù của điện rác. Quy trình đấu thầu phức tạp, nhiều dự án bị hủy do quy trình đấu thầu kéo dài hoặc không thể thực hiện theo hình thức đặt hàng do chưa đủ cơ sở pháp lý. Chưa phân cấp đủ cho địa phương trong quản lý công trình điện rác. Việc phê duyệt dự án, cấp phép môi trường, xây dựng… vẫn phụ thuộc nhiều vào trung ương, gây chậm trễ. Sự phức tạp trong các thủ tục hành chính đang là một trong những nguyên nhân chính khiến các dự án điện rác kéo dài từ 5-8 năm hoặc lâu hơn.

Đại diện Viện Kỹ thuật nhiệt đới và Bảo vệ môi trường Việt Nam Lê Văn Tâm cho hay, rào cản chính sách là nguyên nhân chủ yếu cho việc chậm triển khai các dự án điện rác tại Việt Nam nói chung và tại TP Hồ Chí Minh nói riêng. Thủ tục đầu tư đốt rác phát điện tại Việt Nam phức tạp. Ngoài ra, thủ tục lấy ý kiến để đưa vào quy hoạch đấu nối điện lưới quốc gia của các dự án điện rác kéo dài, phải lấy ý kiến của bảy - tám cơ quan và mất trung bình bốn tháng khiến nhiều nhà đầu tư “chùn bước”.

Việc chậm tiến độ xây dựng các nhà máy đốt rác phát điện sẽ dẫn đến hệ lụy phụ thuộc vào việc xử lý rác bằng chôn lấp gây ô nhiễm môi trường, lãng phí tài nguyên và tăng phát thải khí nhà kính; chậm phát triển năng lượng tái tạo, khiến Việt Nam khó đạt được mục tiêu chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh. Bên cạnh đó, các rào cản trong chính sách khiến các dự án nhà máy điện rác khó thu hút các nhà đầu tư do hiệu suất thấp, chỉ khoảng 20-25%, kém hơn nhiều so với đầu tư nhà máy nhiệt điện (từ 40-42%). Trong khi, chi phí đầu tư nhà máy điện rác rất lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài, thường từ 10-20 năm.

Đốt rác phát điện dù sạch hơn chôn lấp, vẫn phát sinh khí thải, tro bay, tro đáy cần xử lý nghiêm ngặt. Đó cũng chính là rủi ro môi trường và phản ứng cộng đồng mà các dự án điện rác có thể sẽ đối mặt, nếu công nghệ và xử lý chất thải không đảm bảo tiêu chuẩn. Nếu thiếu minh bạch, công khai giám sát thì sẽ khó nhận được đồng thuận xã hội, cản trở phát triển bền vững.

Các dự án điện rác đòi hỏi chi phí đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài. Công trình đốt rác phát điện đòi hỏi vốn ban đầu rất cao, trong khi lợi nhuận phụ thuộc vào mức giá bán điện, phí xử lý rác, thị trường carbon, khả năng cung cấp rác ổn định và chính sách hấp dẫn. Nếu không có chính sách dài hạn, doanh nghiệp nội sẽ dễ nản và cơ hội lại thuộc về các ông lớn ngoại.

Thực tế ở Việt Nam, nhà nước đã cấp chủ trương đầu tư đối với hàng chục dự án điện rác, nhưng chỉ một số dự án điển hình được xây dựng và đi vào hoạt động như: Nhà máy điện rác Cần Thơ, điện rác Sóc Sơn, điện rác Thuận Thành, điện rác EB Huế, điện rác Hậu Giang và nhà máy điện rác Seraphin. Những dự án này đều được cam kết giá điện, giá xử lý rác, khối lượng nguyên liệu cung cấp cho suốt vòng đời dự án, bao tiêu tro bay. Tức là cam kết đầu vào, đầu ra cho hoạt động suốt vòng đời của nhà máy.

Đa số các dự án chưa triển khai được vì nhiều lý do, nhưng chủ yếu là do: Chính sách thả nổi giá điện; thải nổi giá rác, không cam kết khối lượng rác và bao tiêu tro bay sau hóa rắn. Hiện nay chưa có quy định hướng dẫn đơn giá xử lý rác, đơn giá bán điện cho mô hình điện rác, dẫn đến nhà đầu tư chưa lập được phương án khả thi cho dự án; Nếu các dự án không được cam kết sẽ dẫn đến rủi ro khi đầu tư, do đó ngân hàng không cho vay và nhà đầu tư không dám tham gia đầu tư dự án.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý thêm rằng việc kéo dài thời gian của các dự án điện rác không chỉ vì các lý do như đã kể trên mà còn phải kể đến các lý do khác từ phía nhà đầu tư như năng lực tài chính, khả năng về công nghệ, trình độ chuyên môn quản lý của doanh nghiệp... và các nguyên nhân khác.

Muốn không đánh mất cơ hội cần hành động đồng bộ từ ba phía

Để WtE là cơ hội của Việt Nam, không dành cho người khác, cả ba phía Nhà nước, doanh nghiệp, xã hội cần đồng loạt vào cuộc.

Nhà nước phải vững tay hoạch định chính sách: Ban hành khung pháp lý rõ ràng cho WtE từ quy hoạch ngành, phân bổ quỹ đất, tiêu chuẩn môi trường, giám sát khí thải và tro xỉ, tới khung giá mua điện, phí xử lý rác, tín dụng ưu đãi, bảo lãnh rủi ro. Việt Nam cần xây dựng được biểu giá điện ưu đãi cố định (FIT) riêng cho điện rác và cần ban hành biểu giá FIT mới, ổn định và đủ hấp dẫn để khuyến khích nhà đầu tư. Giá điện nên phản ánh chi phí đầu tư, vận hành và công nghệ xử lý rác tiên tiến.

Đơn giản hóa thủ tục phê duyệt, thay vì bắt buộc “phê duyệt công nghệ cụ thể”, nhà nước nên quy định chuẩn đầu ra (khí thải, chất thải rắn) để doanh nghiệp được quyền lựa chọn công nghệ phù hợp, dễ cạnh tranh, chủ động đổi mới. Đây là khuyến nghị rõ ràng từ phía doanh nghiệp đang đầu tư WtE tại Việt Nam.

Phát triển điện rác tại Việt Nam - Để không bị mất cơ hội ngay trên sân nhà - Ảnh 4
Điện rác Seraphin đã ghi tên mình trên bản đồ ngành công nghiệp điện rác thế giới khi là nhà máy do chính doanh nghiệp Việt Nam làm chủ đầu tư

Liên quan đến cơ chế chính sách cho điện rác, tại hội thảo “Cơ chế chính sách nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt trong giai đoạn thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp” đại diện lãnh đạo Nhà máy điện rác Seraphin - một trong những nhà máy điện rác có chủ đầu tư là doanh nghiệp nội địa cho rằng: Nên áp dụng đấu thầu theo vùng, áp dụng cơ thế bền vững với thời gian tối thiểu là 20 năm với lượng rác đảm bảo cho dự án, ký kết hợp đồng dịch vụ xử lý chất thải rắn với dự án, đảm bảo cam kết cung cấp đủ công suất xử lý cho suốt thời gian hoạt động của nhà máy với đơn giá USD; Hỗ trợ nhà đầu tư tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi, cho phép các dự án điện rác tiếp cận các nguồn vay từ quỹ môi trường, ngân hàng chính sách hoặc vốn ODA với lãi suất ưu đãi; Ưu tiên cấp tín dụng xanh, công nhận điện rác là “dự án xanh” để tiếp cận các nguồn tài chính xanh trong và ngoài nước.

Một giải pháp đơn giản nhưng có thể tạo điều kiện thuận lợi đối với phát triển điện rác, đó là thúc đẩy hoạt động phân loại rác tại nguồn, nhằm cải thiện chất lượng rác đầu vào, tăng hiệu quả đốt, giảm tro xỉ, giảm chi phí vận hành cho các công trình điện rác.

Về lâu dài, nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp nội địa phát triển công nghệ đốt rác phát điện, thông qua các chính sách ưu đãi về nghiên cứu phát triển, thuế, mua sắm công cộng, hợp tác công tư, để Việt Nam dần làm chủ thiết bị và công nghệ, hạn chế tối đa phụ thuộc nhập khẩu.

Doanh nghiệp cần tầm nhìn dài hạn và đầu tư đồng bộ

Doanh nghiệp đầu tư không chỉ là đầu tư vào công nghệ lò đốt rác, mà cầnđầu tư đồng bộ vào cả hệ thống xử lý rác - khí - tro, đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, xử lý tro xỉ an toàn, giám sát liên tục, minh bạch các chỉ tiêu môi trường để xây dựng lòng tin của cộng đồng.

Nhà máy xử lý rác thường gây lo ngại cho cộng đồng về vấn đề mùi hôi, khí thải, tro xỉ. Nếu doanh nghiệp không công khai minh bạch, không công khai giám sát, người dân sẽ phản ứng, chính quyền buộc dừng hoạt động, như nhiều bài học từ các dự án xử lý rác trước đó.

Doanh nghiệp ưu tiên mô hình tích hợp trong các nhà máy đốt rác phát điện: đốt rác - phân loại/tái chế/compost - phát điện - tái sử dụng tro xỉ - để tối đa hóa giá trị từ rác, giảm lượng chất thải cuối cùng, phù hợp với mô hình kinh tế tuần hoàn.

Các danh nghiệp cũng cần chủ động trong các kiến nghị chính sách phù hợp, từ khâu ký hợp đồng dài hạn với chính quyền để đảm bảo nguồn rác đến các khâu giá xử lý, giá điện,… đến các chính sách ưu đãi, tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi, giúp mô hình tài chính ổn định; Tăng cường hợp tác công nghệ quốc tế, nhưng định hướng phát triển nội lực, dần học hỏi, làm chủ thiết bị, vận hành, tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt.

Xã hội và cộng đồng cần đồng hành ủng hộ

Để phát triển điện rác trong nước phát triển đúng định hướng cần sự ủng hộ và chung tay của xã hội và cộng đồng. Việc ủng hộ có thể bắt đầu từ hành động phân loại rác tại nguồn. Mỗi hộ gia đình cần ý thức, phân loại rác tái chế, rác hữu cơ, làm giảm độ ẩm của chất thải rắn sinh hoạt, tăng chất lượng đầu vào cho các nhà máy điện rác.

Phát triển điện rác tại Việt Nam - Để không bị mất cơ hội ngay trên sân nhà - Ảnh 5
Phân loại rác tại nguồn cần đi vào thực chất, chứ không chỉ là dừng lại ở các mô hình thí điểm

Cộng đồng cùng tham gia giám sát và đòi hỏi minh bạch các chỉ số môi trường từ nhà máy đốt rác phát điện. Việc đó cũng đặt ra yêu cầu các nhà máy điện rác cần công khai dữ liệu khí thải, tro thải để đảm bảo môi trường sống không bị ảnh hưởng.

Xã hội và cộng đồng cùng ủng hộ WtE như một phần của chuyển đổi xanh, không kỳ thị nhà máy xử lý rác, hỗ trợ việc lập dự án, thúc đẩy doanh nghiệp nội địa tham gia vào quá trình biến rác thành năng lượng ngay trên chính quê hương mình.

Trong bài phỏng vấn gần đây, lãnh đạo doanh nghiệp WtE nhấn mạnh rằng nếu khung chính sách không ổn định, nếu doanh nghiệp nội địa không được khuyến khích phát triển thiết bị và công nghệ, thì điện rác sẽ trở thành “miếng bánh ngon”... của những nhà cung cấp nước ngoài, từ Trung Quốc, châu Âu đến Nhật Bản khi họ có sẵn công nghệ, kinh nghiệm và khả năng huy động vốn lớn.

Chúng ta không thể để Việt Nam trở thành nơi “lắp ráp công nghệ - nhập thiết bị - đốt rác” cho thế giới, mà phải là nơi phát triển chính, nơi chúng ta làm chủ công nghệ, làm chủ xử lý rác & năng lượng.

Có thể thấy, phát triển điện rác tại Việt Nam không chỉ là chuyện môi trường, mà là bài toán kinh tế, công nghiệp, năng lượng và phát triển bền vững. Đây là cơ hội chiến lược để chúng ta biến “rác” thành “tài nguyên”, biến áp lực môi trường thành nền tảng năng lượng sạch. Nhưng cơ hội chỉ thành hiện thực khi Nhà nước kiến tạo khung pháp lý rõ ràng; doanh nghiệp đủ dũng khí và tầm nhìn; cộng đồng đồng thuận và Việt Nam quyết tâm làm chủ ngay trên “sân nhà”. Nếu không chúng ta sẽ vẫn chứng kiến rác sinh hoạt ùn ứ, công nghệ bên ngoài làm chủ và Việt Nam lại lỡ nhịp với xu thế chung.

Nguyễn Cường
Xin chờ trong giây lát...

TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT

Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.

Phiên bản di động