Tăng cường công cụ kinh tế, kiểm soát ô nhiễm môi trường đối với nước thải
Nội dung của Nghị định quy định các đối tượng chịu trách nhiệm thu phí, các tổ chức thu phí, người nộp phí, các trường hợp miễn phí, mức phí, xác định số tiền phí phải nộp, kê khai, thu, thanh toán, quản lý và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026, thay thế Nghị định số 53/2020/NĐ-CP ngày 5/5/2020 của Chính phủ quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
Nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt cùng chịu phí bảo vệ môi trường
Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo quy định tại Nghị định này là nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt, trừ trường hợp đã nộp giá dịch vụ thoát nước theo quy định của pháp luật về giá, pháp luật về thoát nước và xử lý nước thải và các trường hợp miễn phí theo quy định.
Đối với nước thải công nghiệp: Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường là toàn bộ nước thải phát sinh từ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp xả vào nguồn tiếp nhận theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
Đối với nước thải sinh hoạt: Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường bao gồm nước thải sinh hoạt và nước thải phát sinh từ cơ sở thuộc danh mục các loại hình kinh doanh, dịch vụ phát sinh nước thải được quản lý như nước thải sinh hoạt, theo quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt và nước thải đô thị, khu dân cư tập trung do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành.
Nước thải của cơ sở phát sinh tổng lượng nước thải trung bình năm dưới 20 m3/ngày (tương ứng với 7.300 m3 /năm) trong trường hợp sử dụng nước từ hệ thống cung cấp nước sạch cũng sẽ phải chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt.
![]() |
| Nước thải sinh hoạt chịu phí 10% trên 1 m3 nước sạch. Ảnh minh họa: Đào Quang Minh |
Nước thải sinh hoạt chịu phí 10% trên 1 m3 nước sạch
Theo quy định, nước thải sinh hoạt chịu mức phí tương đương 10% giá bán 1 m³ nước sạch (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng). Cách tiếp cận này giúp người sử dụng nước dễ hình dung mối quan hệ trực tiếp giữa lượng nước tiêu thụ - lượng nước thải phát sinh - nghĩa vụ tài chính đối với môi trường. Trường hợp cần áp dụng mức phí cao hơn, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định mức phí cụ thể cao hơn đối với từng đối tượng chịu phí.
Nghị định quy định việc khai, thu, nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt cụ thể như sau:
Người nộp phí thực hiện nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt cùng với hóa đơn thanh toán tiền sử dụng nước sạch cho tổ chức cung cấp nước sạch.
Tổ chức thu phí mở sổ sách kế toán theo dõi riêng số tiền phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt thu được; không hạch toán vào doanh thu hoạt động kinh doanh số tiền phí thu được phải nộp ngân sách nhà nước.
Hằng tháng, chậm nhất là ngày 20 của tháng tiếp theo, tổ chức thu phí thực hiện nộp toàn bộ số tiền phí thu được vào tài khoản phí chờ nộp ngân sách nhà nước.
Tổ chức thu phí thực hiện khai phí theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và nộp số tiền phí phải nộp ngân sách nhà nước từ tài khoản phí chờ nộp ngân sách nhà nước vào ngân sách nhà nước.
Hằng năm, tổ chức thu phí thực hiện quyết toán số phí thu được theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Kho bạc Nhà nước thực hiện hạch toán số tiền phí bảo vệ môi trường đối với nước thải do tổ chức thu phí nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định.
Tính phí môi trường theo lưu lượng và tính chất nước thải công nghiệp
Đối với nước thải công nghiệp, Nghị định quy định nguyên tắc xác định phí gắn với lưu lượng và tính chất nước thải, qua đó tạo áp lực kinh tế buộc các cơ sở sản xuất phải kiểm soát ô nhiễm hiệu quả hơn. Chi phí xả thải sẽ ngày càng phản ánh đúng mức độ tác động đến môi trường của các doanh nghiệp sản xuất, khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
![]() |
| Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp xả vào nguồn tiếp nhận theo quy định của pháp luật sẽ phải nộp phí bảo vệ môi trường. Ảnh minh họa: Phạm Thị Thu |
Nghị định quy định việc khai, thu, nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp cụ thể như sau:
Hằng quý, chậm nhất là ngày 20 của tháng đầu tiên của quý tiếp theo (trừ trường hợp quy định tại điểm e Điều 8 của Nghị định), người nộp phí tự xác định số phí phải nộp theo quy định tại Điều 7 Nghị định này và nộp tiền phí vào ngân sách nhà nước hoặc nộp bổ sung số phí còn thiếu theo thông báo của tổ chức thu phí trong thời hạn 10 ngày kể từ khi có thông báo đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 3 Điều 7 Nghị định này theo hình thức quy định tại điểm b khoản này.
Trường hợp cơ sở bắt đầu hoạt động sau ngày 31 tháng 3 hằng năm: Người nộp phí tự xác định số phí phải nộp và nộp phí theo hình thức quy định tại điểm b khoản này tính từ quý bắt đầu hoạt động.
Người nộp phí thực hiện nộp tiền phí theo hình thức: Nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước hoặc nộp cho tổ chức thu phí theo hình thức không dùng tiền mặt vào tài khoản chuyên thu phí mở tại tổ chức tín dụng của tổ chức thu phí.
Tổ chức thu phí thông báo cho người nộp phí số phí còn thiếu phải nộp bổ sung hoặc số phí cần phải điều chỉnh giảm vào sổ phí phải nộp của kỳ nộp phí tiếp theo của người nộp phí đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 3 Điều 7 Nghị định này.
Hằng quý, chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng đầu tiên của quý tiếp theo, tổ chức thu phí thực hiện khai, nộp toàn bộ số phí thu được (bao gồm cả khoản tiền lãi phát sinh) vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Nguồn chi phí trang trải cho việc thu phí do ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán của tổ chức thu phí theo chế độ, định mức chi ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
Hằng năm, tổ chức thu phí thực hiện quyết toán số phí bảo vệ môi trường đối với nước thải thu được theo quy định của pháp luật về quản lý thuế trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày 01 tháng 01 năm tiếp theo.
Đối với các cơ sở thuộc trách nhiệm quản lý trực tiếp của cơ quan Công an và Quốc phòng (trường hợp thuộc bí mật quốc phòng, an ninh): Hằng quý, chậm nhất là ngày 20 của tháng đầu tiên của quý tiếp theo, người nộp phí tự xác định số phí phải nộp và gửi cho cơ quan chủ quản liên quan. Trên cơ sở đó, cơ quan chủ quản có thông báo với tổ chức thu phí chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày nhận được thông tin của cơ sở; đồng thời gửi cơ sở để thực hiện nộp phí theo thông báo trong thời hạn 10 ngày kể từ khi có thông báo.
Tổ chức cung cấp nước sạch được để lại 10% trên tổng số tiền phí thu được
Nghị định cũng nêu rõ: Tổ chức cung cấp nước sạch được để lại 10% trên tổng số tiền phí thu được để trang trải chi phí cho hoạt động thu phí. Trường hợp cần thiết, Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh quyết định tỷ lệ để lại cho tổ chức cung cấp nước sạch phù hợp với điều kiện, chi phí thực tế tại địa phương nhưng tối đa không quá 10%. Số tiền phí được để lại là doanh thu của tổ chức cung cấp nước sạch. Tổ chức cung cấp nước sạch kê khai, nộp thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và tự quyết định việc quản lý, sử dụng số tiền phí được để lại.
Như vậy, điểm đáng chú ý của Nghị định 346/2025/NĐ-CP là việc làm rõ trách nhiệm của tổ chức thu, quản lý và sử dụng phí. Đối với nước thải sinh hoạt, phí được thu thông qua đơn vị cung cấp nước sạch, giúp giảm chi phí hành chính, tăng tính minh bạch và thuận tiện cho người dân. Đối với nước thải công nghiệp, trách nhiệm thu phí được giao cho cơ quan quản lý nhà nước hoặc đơn vị được ủy quyền, gắn với hệ thống quản lý môi trường hiện hành.
Quan trọng hơn, việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải cần được nhìn nhận là một nguồn lực tài chính bổ sung trong việc đầu tư trở lại cho hạ tầng môi trường, bao gồm hệ thống thoát nước, xử lý nước thải tập trung, cải thiện chất lượng nước. Khi chi phí xử lý nước thải được tính đúng, tính đủ, gắn với trách nhiệm bảo vệ môi trường, hành vi xả thải sẽ dần thay đổi theo hướng có kiểm soát và thân thiện với môi trường hơn, việc sử dụng nước sạch cũng tiết kiệm hơn.
Trong bối cảnh chi phí đầu vào gia tăng, Nghị định số 346/2025/NĐ-CP được áp dụng, nhiều doanh nghiệp sẽ buộc phải cân nhắc lại bài toán đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải, công nghệ tuần hoàn nước, giảm phát sinh ô nhiễm tại nguồn. Chính sách này vì thế cũng sẽ mở ra dư địa phát triển cho ngành công nghiệp môi trường, đặc biệt là các lĩnh vực về công nghệ xử lý nước thải công nghiệp, giải pháp tiết kiệm nước, tái sử dụng nước sau xử lý, dịch vụ vận hành, giám sát, quan trắc môi trường nước...
TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.

