Viên nén sinh khối từ rơm rạ
Tiềm năng sinh khối từ rơm rạ
Việt Nam là nước sản xuất và xuất khẩu lúa gạo đứng thứ 2 thế giới, với sản lượng rơm rạ từ 45-50 triệu tấn mỗi năm, chủ yếu tập trung tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH). Tuy nhiên, nguồn tài nguyên khổng lồ trên đến nay chỉ khoảng 18% rơm rạ được tận thu đúng cách, còn lại gần 80% bị bỏ lãng phí hoặc đốt trực tiếp ngoài đồng, điều đó gây ra ô nhiễm không khí, phát thải khí nhà kính và tác động tiêu cực đến môi trường sống.
Trước thực trạng đó, một số doanh nghiệp và địa phương đã thử nghiệm mô hình thu gom, xử lý rơm rạ bằng vi sinh và sản xuất viên nén sinh khối, một sáng kiến không chỉ tạo giá trị kinh tế mới mà còn góp phần vào mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững, giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao sinh kế cho người dân nông thôn.
![]() |
| Mô hình sản xuất viên nén rơm rạ đang dần được phổ biến tại các địa phương không chỉ vì lợi ích kinh tế mà còn vì môi trường |
Xử lý rơm rạ đúng cách không chỉ là bài toán bảo vệ môi trường, mà còn là cơ hội phát triển kinh tế tuần hoàn và sử dụng tài nguyên hiệu quả. Việc sản xuất viên nén sinh khối từ rơm rạ là giải pháp giúp biến “phế phẩm” thành sản phẩm có giá trị, vừa thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch, vừa góp phần giảm phát thải và mở ra cơ hội tạo thu nhập mới cho nông dân và doanh nghiệp.
Quy trình sản xuất viên nén sinh khối không đơn thuần là nghiền rơm, rồi ép chặt rơm khô tạo thành viên nén như thường thấy, mà để đạt chất lượng tối ưu, rơm rạ cần được xử lý theo các bước khoa học, từ việc thu gom rơm rạ sau thu hoạch tại ruộng hoặc điểm tập kết; xử lý vi sinh để rơm phân hủy tự nhiên nhanh hơn, giảm độ ẩm và độc tính; cho đến nghiền, ép viên nén dưới áp lực cao, tạo ra sản phẩm chặt, đồng nhất, dễ vận chuyển và lưu trữ.
![]() |
| Rơm rạ được thu gom là nguồn sinh khối tiềm năng tại các nước nông nghiệp như Việt Nam |
Đồng thời, rơm rạ bao gồm nhiều thành phần như xenlulo (khoảng 70%) và lignin (16%), nếu không xử lý đúng sẽ tạo ra khói độc và bụi mịn khi đốt. Việc trộn vi sinh trong quá trình sản xuất giúp rơm rạ mủn, hòa trộn đồng đều và làm giảm đáng kể lượng phát thải khi sử dụng. Đây chính là bước để biến phế phẩm thành năng lượng sạch”.
Ngoài ra, viên nén sinh khối còn dễ tiêu thụ trong công nghiệp, hộ gia đình hoặc lò hơi… với lượng phát thải thấp hơn so với than đá hay dầu FO/DO truyền thống, đồng thời góp phần giảm dư lượng CO2, CH4 và các khí gây hiệu ứng nhà kính.
Lợi ích kinh tế - môi trường - xã hội cho nông thôn
Thay vì đốt rơm rạ hoặc bỏ không, người dân có thể thu gom, bán cho nhà máy sản xuất viên nén sinh khối. Đây là nguồn thu không nhỏ, nhất là tại các vùng lúa lớn như ĐBSCL và ĐBSH. Thực tế cho thấy, giá mua rơm rạ theo khối lượng có thể cải thiện từ 30 - 50% so với trước đây. Việc thu mua rơm rạ sau thu hoạch đã giảm tới 80% việc đốt ngoài ruộng và đem lại nguồn thu đáng kể cho nông dân từ bán rơm cho các giải pháp nông nghiệp tuần hoàn, đem lại khoảng 1,5-2 triệu đồng/ha.
Đồng thời những kết quả từ việc Việt Nam đã xuất khẩu hơn 6 triệu tấn viên nén, giá trị gần 805 triệu USD, cho thấy thị trường sinh khối đang rất phát triển và có thể mở rộng sang nguyên liệu rơm rạ và doanh nghiệp sản xuất viên nén từ đó có thể có nguồn nguyên liệu ổn định, tiết kiệm chi phí nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch.
Việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để tạo ra sản phẩm sinh khối không chỉ giải quyết ô nhiễm, mà còn tạo ra ngành nghề mới ở nông thôn. Từ thu gom rơm, vận chuyển đến sản xuất, đóng gói và phân phối. Việc sản xuất viên nén còn tạo ra công ăn việc làm bền vững tại các khu vực nông thôn, góp phần giảm bớt gánh nặng nhập khẩu nhiên liệu và gia tăng giá trị cho chuỗi sản xuất nông sản.
![]() |
| Viên nén sinh khối làm từ rơm rạ được sản xuất trực tiếp tại xưởng Đồng Tháp. |
Ngoài những lợi ích về kinh tế, không thể không nhắc đến lợi ích về môi trường. Bởi, đốt rơm rạ ngoài đồng là nguyên nhân gây tăng nồng độ bụi mịn PM2.5, PM10 và các khí độc. Nhiều đều đã ghi nhận mức độ ô nhiễm gia tăng trong mùa thu hoạch lúa.
Song, nhờ được xử lý vi sinh và ép chặt nên viên nén sinh khối khi đốt phát thải thấp hơn nhiều so với đốt rơm trực tiếp hoặc nhiên liệu truyền thống. Điều này mang lại lợi ích môi trường to lớn, giúp: Giảm nguy cơ hô hấp, bệnh phổi và các vấn đề sức khỏe cộng đồng; giảm bụi mịn, khói bụi ở khu vực nông thôn và thị trấn; hướng đến đạt Netzero vào năm 2050.
Thúc đẩy chuỗi giá trị tuần hoàn trong nông nghiệp
Không chỉ có mục tiêu sản xuất nhiên liệu sinh khối, nhiều doanh nghiệp còn phối hợp nghiên cứu đa dạng hóa sản phẩm từ rơm rạ. Ngoài sản xuất viên nén, các doanh nghiệp đã chủ động tìm các phương pháp tận thu rơm rạ khác như trộn với rác thải hữu cơ để làm phân bón giun trùn quế. Từ rơm rạ, người nông dân cũng có thể khai thác nhiều giá trị khác nhau như làm thức ăn cho bò, trồng nấm...
Nhiều công ty trong lĩnh vực môi trường khác tại Đồng Tháp đang hưởng ứng mô hình này, góp phần thúc đẩy một chuỗi giá trị tuần hoàn xanh trong nông nghiệp, khi sử dụng rơm rạ làm phân bón hữu cơ, rơm rạ làm thành viên nén sinh khối hoặc chế tạo thành các nguyên liệu nông sản phụ trợ.
Điều này không chỉ giúp đa dạng hóa nguồn thu cho nông dân mà còn góp phần giảm thiểu việc sử dụng phân bón hoá học, giảm ô nhiễm môi trường đất và nước. Mặc dù đã có những thành công bước đầu, mô hình vẫn đang đối mặt với nhiều trở ngại. Đặc biệt trong việc nhận thức và thay đổi hành vi, nhiều người nông dân vẫn quen với tập quán đốt rơm rạ sau thu hoạch do nhanh, tiện.
Việc thay đổi thói quen này đòi hỏi thời gian, truyền thông và đào tạo thực hành bài bản, thường xuyên. Cũng như việc, các chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho doanh nghiệp và nông dân tham gia vào chuỗi sản xuất viên nén sinh khối, vốn đầu tư, thuế và thị trường tiêu thụ hiện nay vẫn còn thiếu, nên rất cần có các chính sách hỗ trợ đặc thù để phát triển mô hình này một cách bền vững, từ hỗ trợ tài chính ban đầu đến việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm trong nước và xuất khẩu.
Và để phát triển mô hình sản xuất viên nén sinh khối từ rơm rạ, việc xây dựng xưởng sản xuất đòi hỏi đầu tư thiết bị nén, hệ thống xử lý vi sinh và kho chứa đúng tiêu chuẩn. Điều này cũng tạo thêm rào cản chi phí ban đầu cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Từ những minh chứng rõ ràng trên, có thể thấy, mô hình sản xuất viên nén không chỉ tạo ra một sản phẩm đốt sạch thay thế nhiên liệu hóa thạch mà còn mở ra cơ hội tăng thu nhập cho người nông dân, thúc đẩy chuỗi giá trị tuần hoàn trong nông nghiệp và góp phần bảo vệ môi trường. Với sự ủng hộ từ chính quyền, khoa học và cộng đồng doanh nghiệp, mô hình này có thể trở thành một phần quan trọng trong chiến lược phát triển nông nghiệp xanh của Việt Nam giai đoạn 2025-2035.
![]() |
| Dự án của GAHP và Defra đã hỗ trợ mô hình sản xuất viên nén rơm rạ được nhân rộng tại địa phương. |
Đáng chú ý, để có việc hoàn thiện hệ thống thiết bị máy móc và quy trình khoa học trong việc xử lý rơm rạ bằng vi sinh, phục vụ sản xuất viên nén sinh khối đã nhận được sự hỗ trợ quan trọng từ Liên minh Toàn cầu về Sức khỏe và Ô nhiễm (GAHP) cùng nguồn tài trợ của Bộ Môi trường, Thực phẩm và Nông nghiệp Vương quốc Anh (Defra).
Việc thí điểm sản xuất viên nén sinh khối từ rơm rạ từ Dự án hỗ trợ sẽ không chỉ giúp kiểm chứng hiệu quả kỹ thuật, kinh tế và môi trường của mô hình, mà còn tạo cơ sở thực tiễn quan trọng để đánh giá khả năng nhân rộng trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính và phát triển nông nghiệp tuần hoàn.
Tin mới
TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.



