Kinh nghiệm phát triển thị trường dịch vụ CTRSH của một số nước trên thế giới và đề xuất bài học kinh nghiệm tại Việt Nam
1. Kinh nghiệm của Singapore về quản lý nhà nước và phát triển doanh nghiệp trong thị trường dịch vụ CTRSH
Singapore tổ chức chính quyền quản lý theo mô hình chính quyền 1 cấp, chất thải là một bộ phận trong hệ thống quản lý môi trường của quốc gia và chỉ chịu sự quản lý của Chính phủ. Thị trường xử lý CTRSH ở Singapo có sự tham gia quản lý của Cơ quan quản lý môi trường quốc gia (NEA), NEA có chức năng lập kế hoạch, phát triển và quản lý CTRSH phát sinh; cấp giấy phép cho lực lượng thu gom chất thải; ban hành quy định trong việc thu gom chất thải hộ gia đình và chất thải thương mại trong 9 khu và xử lý những hành vi vứt rác không đúng quy định; xúc tiến thực hiện 3R (tái chế, tái sử dụng và làm giảm sự phát sinh chất thải) để bảo tồn tài nguyên. NEA chỉ đóng vai trò điều tiết giá tại các khu xử lý CTRSH, đảm bảo các khu xử lý có sự bền vững về tài chính, đồng thời điều tiết lượng CTRSH đi vào các khu xử lý. Hợp đồng xử lý CTRSH ở các khu xử lý rác đủ thời gian để khấu hao nhà máy xử lý [1].
Tại Singapore, nhiều năm qua đã hình thành một cơ chế thu gom CTRSH rất hiệu quả, việc thu gom rác sinh hoạt được tổ chức đấu thầu công khai cho các nhà thầu, công ty trúng thầu sẽ thực hiện công việc thu gom rác sinh hoạt trên một địa bàn cụ thể trong thời hạn 7 năm.
Trong số các nhà thầu thu gom rác sinh hoạt tại Singapore, có 4 nhà thầu thuộc khu vực công, còn lại thuộc khu vực tư nhân; các nhà thầu tư nhân có những đóng góp quan trọng trong thu gom rác thải, khoảng 50% lượng rác thải phát sinh do tư nhân thu gom, chủ yếu là rác của cơ sở thương mại, công nghiệp và xây dựng (chất thải của khu vực này đều thuộc loại vô cơ nên không cần thu gom hàng ngày).
Giá chi phí dịch vụ thu gom CTRSH tại các khu thương mại sẽ là giá đấu thầu của công ty thắng thầu. Cách xây dựng phí của Singapo là người dân phải trả toàn bộ chi phí để quản lý CTRSH đô thị, Nhà nước không bao cấp và hỗ trợ. Phí cho dịch vụ thu gom rác sinh hoạt được cập nhật trên internet, công khai để người dân có thể theo dõi. Cơ quan quản lý môi trường quốc gia qui định các khoản phí về thu gom rác và đổ rác với mức 6-15 đô la Singapore mỗi tháng tùy theo phương thức phục vụ (15 đôla đối với các dịch vụ thu gom trực tiếp, 6 đôla đối với các hộ được thu gom gián tiếp qua thùng chứa rác công cộng ở các chung cư). Đối với các nguồn thải không phải là hộ gia đình, phí thu gom được tính tùy vào khối lượng rác phát sinh có các mức 30-70-175-235 đô la Singapore mỗi tháng. Các phí đổ rác được thu hàng tháng do ngân hàng PUB đại diện cho Cơ quan quản lý môi trường quốc gia thực hiện [2].
Thực hiện cơ chế thu nhận ý kiến đóng góp của người dân thông qua đường dây điện thoại nóng cho từng đơn vị thu gom rác để đảm bảo phát hiện và xử lý kịp thời tình trạng phát sinh rác và góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ.
Quan hệ thị trường dịch vụ tái chế, xử lý CTRSH là mối quan hệ giữa doanh nghiệp thu gom, vận chuyển CTRSH (bên cầu) chi trả phí xử lý CTRSH cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tái chế, xử lý CTRSH (bên cung) để được đổ CTRSH tại khu xử lý; cả hai bên cung và cầu đều có tính tập trung (độc quyền) khi mua bán dịch vụ xử lý CTRSH.
2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc về thu giá dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH theo khối lượng
Tại Hàn Quốc, việc thu giá dịch vụ CTRSH theo khối lượng đã được áp dụng từ những năm thuộc thập niên 90 của thế kỷ XX; trước khi áp dụng thu giá dịch vụ CTRSH theo khối lượng vào năm 1995, Hàn Quốc đã có giai đoạn chuẩn bị, nghiên cứu khả thi rất kỹ lưỡng từ các cơ quan chức năng và tổ chức các cuộc họp để thông báo cho người dân về chính sách mới này. Hoạt động thí điểm đã được thực hiện vào năm 1994, một số quận ở Seoul đã thử nghiệm áp dụng việc thu phí xử lý CTRSH theo khối lượng để xem liệu hệ thống này có hoạt động tốt hay không [3].
Để việc thu giá dịch vụ CTRSH theo khối lượng được thực hiện, đòi hỏi người dân phải mua một túi nhựa đặc biệt để đựng chất thải, nếu chất thải nhiều, bạn phải mua một túi nhựa lớn hơn với chi phí cao hơn, về cơ bản, nó cung cấp một động lực cho người dân để giảm phát sinh chất thải và thúc đẩy tái chế nhiều hơn.
Việc tính giá của túi nhựa đặc biệt để đựng CTRSH phát sinh được xác định theo quy định của địa phương, giá giữa các thành phố khác nhau nhưng không có nhiều sự khác biệt; giá cơ bản được xác định khi xem xét các chi phí xử lý chất thải và tình trạng tài chính của chính quyền địa phương và mức sống của người dân.
Lợi nhuận từ việc thu giá dịch vụ CTRSH theo khối lượng được sử dụng để chi trả cho việc xử lý chất thải; lợi nhuận từ thu giá dịch vụ CTRSH theo khối lượng chiếm khoảng 30% - 40% chi phí xử lý CTRSH, vì vậy vẫn đòi hỏi trợ cấp từ Chính phủ Hàn Quốc.
Việc thu giá dịch vụ CTRSH theo khối lượng được xác định là công cụ để phát triển thị trường thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý CTRSH. Việc thu giá dịch vụ CTRSH theo khối lượng thực sự đã thay đổi nhận thức của công chúng về chất thải, mọi người cố gắng giảm thiểu CTRSH và họ thích sản phẩm thân thiện với môi trường hơn và cũng dẫn đến những thay đổi trong hành vi của người dân với chất thải.
Hoạt động thu giá dịch vụ CTRSH theo khối lượng đã tạo ra hai tác động rất quan trọng đối với việc quản lý chất thải: 1) Thúc đẩy phân loại CTRSH tại nguồn để giảm khối lượng chất thải trong túi đựng, từ đó làm giảm khối lượng CTRSH phải vận chuyển đến bãi rác để xử lý; và 2) Thúc đẩy tái chế, các chất thải có thể tái chế không yêu cầu sử dụng túi nhựa trả trước và được thu gom miễn phí.
3. Bài học từ kinh nghiệm quốc tế về phát triển thị trường dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý CTRSH để vận dụng tại Việt Nam
* Từ kinh nghiệm của Singapore về quản lý nhà nước và phát triển doanh nghiệp trong thị trường dịch vụ CTRSH đã áp dụng thành công, đúc kết bài học kinh nghiệm vận dụng tại Việt Nam:
1) Đối với tổ chức quản lý nhà nước phát triển thị trường dịch vụ CTRSH cần tập trung vào một đầu mối từ cấp trung ương đến các địa phương;
2) Đối với hoạt động cung ứng dịch vụ CTRSH từng bước áp dụng các công nghệ, thiết bị hiện đại đáp ứng yêu cầu về chất lượng dịch vụ CTRSH; hạn chế giao cho nhiều doanh nghiệp cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển CTRSH trên một địa bàn mà hướng đến phát triển, nâng cao năng lực, quy mô và sức cạnh tranh của đơn vị cung ứng dịch CTRSH;
3) Cần tăng thời gian các gói thầu cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển CTRSH (từ 5 năm đến 7 năm), tránh việc thời gian thực hiện các gói thầu cung ứng dịch vụ ngắn, không đủ thời gian khấu hao công nghệ, thiết bị khiến doanh nghiệp cung ứng dịch vụ CTRSH không yên tâm đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị cung ứng dịch vụ CTRSH, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ CTRSH;
4) Cần công khai, minh bạch thông tin về thị trường dịch vụ CTRSH trên cơ sở thông tin về thị trường dịch vụ CTRSH được xây dựng, cập nhật và tích hợp vào hệ thống cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia và của địa phương để cơ quan quản lý Nhà nước và cộng đồng dân cư cùng theo dõi;
5) Cần công khai, minh bạch trong công tác đấu thầu, lựa chọn doanh nghiệp cung ứng dịch vụ CTRSH; theo đó, dần hạn chế hình thức đặt hàng/ giao kế hoạch cung ứng dịch vụ CTRSH cho các doanh nghiệp Nhà nước, tiến tới để giá đấu thầu quyết định đơn vị trúng thầu.
* Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc về thu giá dịch vụ CTRSH theo khối lượng, đúc kết bài học kinh nghiệm vận dụng tại Việt Nam như sau:
Thu giá dịch vụ CTRSH theo khối lượng đã đẩy nhanh tiến độ phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn và khuyến khích người dân giảm thiểu CTRSH, thúc đẩy tái chế CTRSH. Lưu ý, giá dịch vụ thu gom, vận chuyển CTRSH phải được tính đúng, tính đủ các chi phí thực hiện; trước tiên, nên tiến hành thu thí điểm tại các khu thương mại; trong khu vực dân cư, phí vệ sinh cần được tính làm nhiều mức khác nhau, tránh việc thay đổi giá dịch vụ một cách đột ngột, thông báo mang tính ra lệnh mà cần có lộ trình cụ thể, thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, có thực hiện thí điểm để tạo sự đồng thuận, rút kinh nghiệm kịp thời tránh sự chống đối trong nhân dân.
Việc học tập kinh nghiệm quốc tế trong phát triển thị trường dịch vụ CTRSH không chỉ giúp Việt Nam tránh được những sai sót trong quá trình xây dựng và vận hành thị trường, mà còn mở ra cơ hội nâng cao hiệu quả quản lý môi trường, phát triển kinh tế tuần hoàn và bền vững. Việc vận dụng linh hoạt những mô hình phù hợp với điều kiện thực tiễn trong nước sẽ góp phần tạo dựng một thị trường dịch vụ CTRSH hiệu quả, minh bạch và phát triển bền vững trong tương lai.
Tài liệu tham khảo:
-
Trần Ngọc Ngoạn (2016), Hợp tác công tư trong lĩnh vực dịch vụ môi trường đô thị - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2020, từ [http://tapchimoitruong.vn/pages/article.aspx?item=H%E1%BB%A3p-t%C3%A1c-c%C3%B4ng-t%C6%B0-trong-l%C4%A9nh-v%E1%BB%B1c-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%C3%B4-th%E1%BB%8B----Kinh-nghi%E1%BB%87m-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-v%C3%A0-b%C3%A0i-h%E1%BB%8Dc-cho-Vi%E1%BB%87t-Nam-40291].
-
Viện Nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh (2010), Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn tại Singapore, truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2020, từ [https://kinhnghiemsingapore.wordpress.com/2010/12/10/kinh-nghi%E1%BB%87m-qu%E1%BA%A3n-ly-ch%E1%BA%A5t-th%E1%BA%A3i-r%E1%BA%AFn-t%E1%BA%A1i-singapore/].
-
Hàn Trần Việt (2020), Mô hình thu phí chất thải rắn dựa trên lượng thải - Kinh nghiệm từ Hàn Quốc, truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020, từ [http://tapchimoitruong.vn/nghien-cuu-23/M%C3%B4-h%C3%ACnh-thu-ph%C3%AD-ch%E1%BA%A5t-th%E1%BA%A3i-r%E1%BA%AFn-d%E1%BB%B1a-tr%C3%AAn-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-th%E1%BA%A3i---Kinh-nghi%E1%BB%87m-t%E1%BB%AB-H%C3%A0n-Qu%E1%BB%91c-14262].
Tin mới
Nghiên cứu thiết kế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho thị trường tín chỉ đa dạng sinh học tại Việt Nam
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Bệnh viện Hữu Nghị nhân kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam
Tin khác
TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.