Thứ năm 14/11/2019 08:17

Quốc hội xem xét sửa luật người nước ngoài ra vào, cư trú tại Việt Nam

30/10/2019 08:03
Quốc hội đã nghe các báo cáo về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam trong phiên họp toàn thể tại Hội trường vào chiều 29/10 trước khi thảo luận tại tổ về dự án Luật này.
Cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật về quản lý, sử dụng vũ khí Trình Quốc hội cho thí điểm không tổ chức HĐND phường tại Hà Nội Thành viên Chính phủ phải tham dự đầy đủ các phiên thảo luận của Quốc hội

Trình bày Tờ trình của Chính phủ tại Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm cho biết, Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam (gọi tắt là Luật số 47) được xây dựng nhằm mục đích hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bổ sung các quy định để giải quyết những vướng mắc phát sinh trong thực tế; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Đồng thời, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho người nước ngoài vào Việt Nam.

Quan điểm chỉ đạo xây dựng luật là: Tiếp tục thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, phù hợp với Hiến pháp, tạo sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật của Nhà nước và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tiếp tục bảo đảm công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, tăng cường áp dụng khoa học công nghệ trong giải quyết cho người nước ngoài vào Việt Nam, góp phần thu hút đầu tư, du lịch nước ngoài nhưng vẫn bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội...

Bố cục của Dự thảo Luật gồm 2 Điều: Điều 1 gồm 20 khoản quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật số 47. Điều 2 quy định về hiệu lực thi hành.

Về quá trình xây dựng dự án luật, Bộ trưởng Tô Lâm cho hay, thực hiện chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp các bộ, ngành liên quan xây dựng Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật số 47 đảm bảo tiến độ, có chất lượng trình Quốc hội vào Kỳ họp thứ 8. Đã rà soát, thống kê, nghiên cứu các chủ trương, chính sách, các văn bản luật liên quan đến người nước ngoài tại Việt Nam từ năm 2015 đến nay. Đã lấy ý kiến các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố; đăng tải trên cổng thông tin điện tử của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Công an. Đã giao Bộ Tư pháp tổ chức thẩm định đối với Dự án Luật.

Trên cơ sở các ý kiến tham gia và thẩm định của Bộ Tư pháp, Chính phủ đã giao Bộ Công an nghiên cứu, bổ sung, chỉnh lý Dự án Luật. Chính phủ đã tổ chức phiên họp để thảo luận, tham gia ý kiến và thông qua Dự án Luật trình Quốc hội.

Báo cáo thẩm tra về dự án luật này, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh (QPAN) của Quốc hội Võ Trọng Việt khẳng định, Ủy ban QPAN tán thành với sự cần thiết ban hành Luật đã nêu trong Tờ trình số 390/TTr-CP ngày 06/9/2019 của Chính phủ là nhằm luật hóa các quy định về cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam đã được thí điểm trong thời gian qua; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật về xuất nhập cảnh, khắc phục được những bất cập, hạn chế của Luật số 47 và có bổ sung điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh; thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm sự thuận lợi, thông thoáng về thủ tục, chặt chẽ về mặt quản lý nhà nước đối với hoạt động này. Bên cạnh đó, Ủy ban QPAN cho rằng, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật số 47 còn nhằm thể chế hóa chủ trương đối ngoại của Đảng và bảo đảm phù hợp với các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập trong thời gian vừa qua.

Ủy ban QPAN nhận thấy, nội dung dự thảo Luật phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng có liên quan đến xuất nhập cảnh, bảo vệ an ninh quốc gia và hội nhập quốc tế, bảo đảm tính hợp hiến, tính thống nhất với hệ thống pháp luật, tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và bảo đảm tính khả thi.

Về giá trị sử dụng của thị thực (khoản 2 Điều 1), dự thảo luật đã bổ sung các trường hợp được chuyển đổi mục đích của thị thực. Tuy nhiên, theo ông Võ Trọng Việt, có ý kiến đề nghị giữ nguyên như quy định tại Khoản 1 Điều 7 của Luật số 47 là “Thị thực có giá trị một lần hoặc nhiều lần và không được chuyển đổi mục đích” nhằm tránh tình trạng người nước ngoài vào Việt Nam với danh nghĩa tham quan, du lịch, sau đó xin chuyển đổi thực hiện các mục đích khác gây phức tạp về an ninh, trật tự.

Ủy ban QPAN nhất trí với việc bổ sung trường hợp chính đáng được chuyển đổi mục đích thị thực theo điều kiện rõ ràng như đã thể hiện trong dự thảo Luật. Quy định này phù hợp với tình hình thực tế, tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài có đủ điều kiện tiếp tục ở lại Việt Nam chuyển đổi mục đích thị thực để tìm hiểu thị trường, tìm kiếm việc làm, cơ hội đầu tư mà không phải mất thời gian, chi phí để làm thủ tục xuất cảnh rồi nhập cảnh. Đây là quy định thể hiện sự thông thoáng, nhưng chặt chẽ trong việc quản lý cư trú người nước ngoài tại Việt Nam.

Về bổ sung trường hợp được miễn thị thực “Vào khu kinh tế ven biển theo quyết định của Chính phủ” (Khoản 7, Điểm b Khoản 18 Điều 1), có ý kiến đề nghị đối với 16 khu kinh tế ven biển ở trong đất liền cần được áp dụng chính sách miễn thị thực cho người nước ngoài nhập cảnh tương tự như đối với các khu kinh tế cửa khẩu (đã được quy định tại Khoản 3 Điều 12 của Luật số 47) mà không phải kèm theo điều kiện, còn các khu kinh tế ven biển thuộc huyện đảo thì quy định rõ điều kiện như dự thảo Luật đã quy định.

Ủy ban QPAN cho rằng, nước ta có rất nhiều khu kinh tế ven biển trong đất liền, có diện tích rộng, trải dài theo chiều dọc của đất nước, cách xa sân bay và nhiều nơi có vị trí chiến lược về quốc phòng - an ninh, nếu tất cả đều miễn thị thực cho người nước ngoài nhập cảnh sẽ tiềm ẩn các nguy cơ về quốc phòng, an ninh, khó khăn trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự và quản lý hoạt động của người nước ngoài. Còn đối với các khu kinh tế cửa khẩu, do có vị trí giáp biên giới, phạm vi hẹp, gần cửa khẩu nên sẽ thuận lợi hơn trong việc quản lý người nước ngoài nhập cảnh vào khu vực này. Do đó, Ủy ban QPAN tán thành với dự thảo Luật về việc bổ sung trường hợp được miễn thị thực có điều kiện đối với các khu kinh tế ven biển và giao Chính phủ quyết định; đồng thời, đề nghị thu hút các điều kiện này từ Điểm b Khoản 18 về Khoản 7 Điều 1 của dự thảo Luật.

Về cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam (Khoản 10, Khoản 11 Điều 1), có ý kiến còn băn khoăn về hiệu quả của việc cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam; ý kiến khác cho rằng, các đối tượng xấu sẽ lợi dụng chủ trương này để nhập cảnh Việt Nam tiến hành các hoạt động xâm phạm, đe dọa xâm phạm an ninh quốc gia, gây mất trật tự, toàn xã hội.

Ủy ban QPAN thấy rằng, cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam là chính sách mới, thể hiện quyết tâm cải cách hành chính triệt để của Chính phủ, phù hợp chủ trương ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Qua tổng kết việc thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam đã khẳng định là cần thiết, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế của đất nước, được dư luận trong và ngoài nước đánh giá cao, tạo hiệu ứng tích cực vì thủ tục thông thoáng, thuận lợi, công khai, minh bạch, giúp người nước ngoài có nhiều lựa chọn khi có nhu cầu nhập cảnh Việt Nam nên việc luật hóa cấp thị thực điện tử vào dự thảo Luật này là cần thiết.

Ủy ban QPAN tán thành với quy định tại Khoản 10, Khoản 11 Điều 1 của dự thảo Luật với việc bổ sung Điều 16a, Điều 16b và Điều 19a quy định trình tự, thủ tục cấp thị thực điện tử trong dự thảo Luật.

Ông Võ Trọng Việt nhấn mạnh, Ủy ban QPAN đề nghị các đại biểu Quốc hội nghiên cứu, tham gia ý kiến đối với dự thảo Luật, trong đó tập trung thảo luận một số vấn đề về: bổ sung các trường hợp được chuyển đổi mục đích của thị thực (Khoản 2 Điều 1);  bổ sung trường hợp được miễn thị thực “Vào khu kinh tế ven biển theo quyết định của Chính phủ” (Khoản 7, Điểm b Khoản 18 Điều 1); bổ sung điều kiện đơn phương miễn thị thực (Khoản 8 Điều 1); cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam (Khoản 10, Khoản 11 Điều 1); sửa đổi điều kiện nhập cảnh, điều kiện xuất cảnh (Khoản 12, Khoản 13 Điều 1)...

Theo VGP
Xem phiên bản mobile