Thứ tư 02/12/2020 10:06

Thực trạng công tác xử lý chất thải rắn sinh hoạt tỉnh Bến Tre

18/03/2020 11:00
Nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng được bảo vệ môi trường trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt; rác thải sinh hoạt chưa được phân loại tại nguồn; thiết bị thu gom, phương tiện vận chuyển rác không đảm bảo kỹ thuật gây mất vệ sinh; hầu hết các bãi chôn lấp rác đều quá tải, gây ô nhiễm;...
Kỳ vọng mới trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Bến Tre Những bất cập trong thực hiện quy hoạch quản lý chất thải rắn sinh hoạt
thuc trang cong tac xu ly chat thai ran sinh hoat tinh ben tre
Hầu hết các bãi rác trên địa bàn tỉnh Bến Tre đều quá tải so với lượng rác phát sinh.

Đó là một trong những vẫn đề nổi cộm về thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt của tỉnh Bến Tre hiện nay. Nếu không có biện pháp hiệu quả và tăng cường công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt thì vấn đề ô nhiễm rác thải sẽ trầm trọng hơn trong thời gian tới.

Theo thống kê, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt khu vực đô thị (bao gồm thành phố Bến Tre, các đô thị huyện và đô thị trung tâm xã) trên địa bàn tỉnh phát sinh được thu gom trong năm 2018 khoảng 85.583 tấn/năm (trung bình 234 tấn/ngày, trong đó thành phố Bến Tre và các khu vực lân cận khoảng 180 tấn/ngày, mỗi huyện thu gom khoảng 10 - 40 tấn/ngày). Việc thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Bến Tre, huyện Châu Thành và khu vực lân cận được thực hiện thông qua Công ty cổ phần công trình đô thị Bến Tre, chi phí cho việc thu gom, vận chuyển đối với hộ gia đình tối đa là 25.000 đồng/tháng và 50.000 - 100.000 đồng/tháng đối với hộ kinh doanh. Đánh giá chung cho thấy, các phương tiện vận chuyển đảm bảo không rơi vãi, rò rỉ.

 Tại các huyện còn lại chủ yếu thông qua Phòng Kinh tế và Hạ tầng, Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân các huyện thu gom trong khu vực nội thị và tại một số chợ; do điều kiện kinh phí tại các huyện còn hạn chế nên việc mở rộng địa bàn thu gom còn gặp rất nhiều khó khăn. Tại các xã, có thành lập tổ dịch vụ thu gom rác để thu gom rác của khu vực chợ, các cơ quan và hộ dân khu vực trung tâm xã. Chi phí cho việc thu gom, vận chuyển đối với hộ gia đình tối đa là 22.000 đồng/tháng và 40.000 - 90.000 đồng/tháng đối với hộ kinh doanh. Các phương tiện vận chuyển chưa đảm bảo không để rơi vãi rác thải, rò rỉ nước thải trong quá trình vận chuyển.

Theo số liệu thống kê của các xã trên địa bàn tỉnh, đến tháng 6 năm 2019 có 9,8% hộ nằm trên tuyến đường thu gom đăng ký dịch vụ thu gom rác; có 76,9% rác thải sinh hoạt của các hộ nằm xa tuyến đường thu gom (sâu trong vườn) được thu gom, xử lý bằng nhiều biện pháp như phân loại, ủ phân compost, chôn lấp hợp vệ sinh và đốt.

Nhìn chung, vấn đề thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt tại các huyện chưa đạt yêu cầu, vẫn còn các bãi rác tự phát dọc hai bên đường, hình thức tự chôn hoặc đốt còn phổ biến ở nhiều khu vực trong tỉnh. Hiện tượng thải rác bừa bãi làm ô nhiễm môi trường, nhất là vào mùa mưa vẫn còn diễn ra. Tỉnh đã triển khai trên phạm vi nhỏ (cấp xã) các mô hình phân loại rác tại nguồn phần phế liệu (bán ve chai), phần hữu cơ dễ phân hủy ủ phân compost bón cho cây trồng và chôn lấp hợp vệ sinh đối với rác khó phân hủy. Nhìn chung các mô hình phát huy hiệu quả trong việc tuyên truyền ý thức phân loại và xử lý rác thải đến người dân. Tuy nhiên, việc phân loại rác tại nguồn chưa hiệu quả do cần phải có sự đồng bộ về cơ sở hạ tầng từ việc thu gom, vận chuyển và xử lý. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh chưa có hệ thống thu hồi, tái chế, tái sử dụng rác thải đô thị. Việc phân loại chủ yếu được thực hiện dưới hình thức thu gom những vật liệu có thể bán được (nhôm, sắt, thép, đồ nhựa…) để bán cho các cơ sở thu mua phế liệu.

Bến Tre chưa xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh, tất cả lượng rác thải được thu gom đều được xử lý bằng hình thức thải đổ tại các bãi rác hở có diện tích nhỏ, khoảng cách đến nhà dân, công trình chưa đảm bảo. Hiện toàn tỉnh có 08 bãi xử lý chất thải rắn đang hoạt động chủ yếu phục vụ xử lý chất thải rắn cho các khu vực đô thị, có 3 bãi rác được trang bị hệ thống thu gom nước rỉ rác, nhưng chưa triệt để, đó là khu xử lý chất thải rắn huyện Mỏ Cày Nam, Giồng Trôm và huyện Ba Tri.

Toàn bộ lượng rác thu gom trên địa bàn thành phố Bến Tre, huyện Châu Thành và khu vực lân cận được chuyển về Nhà máy xử lý rác thải Bến Tre (xã Hữu Định). Đối với một số huyện có hệ thống thu gom và có bãi rác thì rác được vận chuyển tới bãi rác và đổ lộ thiên, để phân hủy tự nhiên có kết hợp phun chế phẩm EM để hạn chế mùi hôi.

Nhìn chung, công tác xử lý rác thải trên địa bàn tỉnh Bến Tre còn gặp rất nhiều khó khăn nhất là thiếu nguồn kinh phí để nâng cấp, cải tạo các bãi rác hiện hữu, cũng như đầu tư xây dựng các khu xử lý rác thải mới. Việc xây dựng nhà máy xử lý chất thải rắn, bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh và xây dựng hệ thống xử lý nước rỉ rác tỉnh vẫn đang tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ từ Trung ương, đồng thời tăng cường công tác kêu gọi xã hội hóa các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh.

Thu Vân
Xem phiên bản mobile