Thực trạng phát thải tro, xỉ nhiệt điện
Thực tế lượng tro xỉ, thạch cao thải ra từ các nhà máy nhiệt điện lớn hơn lượng đang tồn trữ, sự chênh lệch lượng phát thải và lượng trên bãi chứa là do thực tế có nhà máy nhiệt điện đã tiêu thụ được khoảng 25% -30% hoặc tiêu thụ hết lượng tro, xỉ được thải ra hoặc có đơn vị chưa tiêu thụ được.
Tổng lượng tro, xỉ nhiệt điện phát sinh năm 2016
| TT | Tro, xỉ nhiệt điện | Tro bay, tấn | Tro đáy, tấn | Tổng, tấn | Tỷ lệ % |
| 1 | Công nghệ PC | 8.545.516 | 2.136.380 | 10.681.896 | 68 |
| 2 | Công nghệ CFB | 4.081.968 | 1.020.493 | 5.102.461 | 32 |
| Tổng cả 2 loại | 12.627.484 | 3.156.873 | 15.784.357 | 100
| |
Điểm thu tro, xỉ tại bãi thải Nhà máy nhiệt điện Mạo Khê Tuy nhiên cũng theo số liệu điều tra thực tế và các đơn vị báo cáo, tổng lượng tro xỉ, thạch cao đã được tiêu thụ không lớn, chỉ vào khoảng 25% - 30% so với tổng lượng được thải ra hàng năm và không phân bố đều đối với từng nhà máy. Có những nhà máy đã bán hầu hết lượng xỉ, tro bay và thạch cao thải ra, trong khi đó có những nhà máy phải thải toàn bộ tro, xỉ, thạch cao ra bãi chứa hoặc tro, xỉ, thạch cao tại bãi chứa không được các đơn vị xử lý, sử dụng thu mua. Lý giải vấn đề này có một số nguyên nhân sau:
1. Các nhà máy sử dụng công nghệ than phun sẽ tách được thạch cao ra khỏi tro bay, do đó ngoài việc tiêu thụ được tro bay thì nếu thạch cao đủ tiêu chuẩn (hàm lượng thạch cao CaSO4.2H2O lớn) sẽ dễ dàng tiêu thụ vào các mục đích khác nhau như làm phụ gia cho sản xuất xi măng, vật liệu xây không nung,…Trong khi đó đối với các nhà máy sử dụng công nghệ CFB, đá vôi được đưa vào đốt cùng với than để khử lưu huỳnh (SO2) trong khói, do đó thạch cao được tạo ra sẽ lẫn vào tro bay và không thể tách thạch cao ra khỏi tro bay, đồng thời hàm lượng SO3 và CaOtd(15% – 20%) và MKN lớn có màu đỏ, nâu dẫn đến việc sử dụng vào sản xuất vật liệu xây dựng gặp nhiều khó khăn,
2. Một số nhà máy ở khu vực gần biển (Nhiệt điện Quảng Ninh, Nhiệt điện Mông Dương 2, …) do thiếu nước ngọt đã phải dùng nước mặn hoặc nước nhiễm mặn để vận hành hệ thống bơm thải xỉ ra bãi chứa dẫn tới tro, xỉ, thạch cao bị nhiễm mặn, gây khó khăn cho việc xử lý, sử dụng.
3. Thông thường tro bay tại nhà máy nhiệt điện có hàm lượng MKN <12% được tiêu thụ gần hết trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng, tuy nhiên một số nhà máy thải ra tro bay có hàm lượng MKN trên dưới 5% (Nhiệt điện Vũng Áng 1) nhưng ở khu vực cách xa các đơn vị có tiềm năng sử dụng tro, xỉ, thạch cao với khối lượng lớn dẫn đến mặc dù tro bay, xỉ, thạch cao đạt tiêu chuẩn sử dụng hoặc sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành để sử dụng làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng nhưng do chi phí vận chuyển cao dẫn tới giá thành cao hơn so với khoáng sản được khai thác tại chỗ.
4. Có nhà máy do chất lượng than đốt làm cho tro bay và xỉ có mầu đỏ, nâu dẫn tới việc xử lý, sử dụng khó khăn.
5. Khi tro, xỉ, thạch cao không được các đơn vị thu mua hoặc có thể xử lý tại chỗ thì tất cả đều được hòa trộn với nước và bơm ra bãi thải dẫn tới sự lẫn lộn giữa tro, xỉ, thạch cao, gây khó khăn trong quá trình xử lý tiếp theo.
Dự báo lượng tro, xỉ
Theo quy hoạch điện VII điều chỉnh, đến năm 2030, tổng công suất nguồn nhiệt điện than là MW, sản xuất khoảng 304 tỷ kWh chiếm khoảng 53,2% điện sản xuất, tiêu thụ khoảng 129 triệu tấn than. Như vậy nguồn than cấp cho các nhà máy nhiệt điện ở nước ta trong thời gian sắp tới sẽ từ hai nguồn là than nội địa và than nhập khẩu (chủ yếu từ Indonexia, Nga và Australia). Để đảm bảo cung cấp nhiên liệu cho nhà máy nhiệt điện và cân bằng năng lượng sơ cấp tới năm 2030, Việt Nam sẽ cần nhập khoảng 90 triệu tấn than. Dự kiến lượng tro, xỉ thải ra của các nhà máy nhiệt điện than được dự báo như sau:
Dự tính Lượng tro xỉ nhiệt điện qua các năm
| TT | Năm | Tổng lượng tro xỉ đã phát sinh hàng năm (tấn/năm) | Tổng lượng tro xỉ đã tích trữ nếuTin mới
Giải Lướt ván diều quốc tế Mỹ Hòa - Khánh Hòa 2026: Thể thao biển gắn với bảo vệ môi trường và phát triển du lịch bền vững
Đà Nẵng Công bố Nghị quyết số 259/2025/QH15: Mở ra giai đoạn phát triển mới với nhiều cơ chế đặc thùTRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠTTriển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.
Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai công tác năm 2026 của Chính phủ và chính quyền địa phương
Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa |