Thứ ba 07/07/2020 22:26
Bến Tre

Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt

20/03/2020 12:17
Công tác quản lý chất thải rắn được tỉnh Bến Tre xác định là một trong những mục tiêu, nhiệm vụ hàng năm và luôn được quan tâm, quán triệt sâu rộng đến các cấp, các ngành. Tuy nhiên, thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt của tỉnh Bến Tre hiện nay chưa đáp ứng được bảo vệ môi trường.
Kỳ vọng mới trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Bến Tre Những bất cập trong thực hiện quy hoạch quản lý chất thải rắn sinh hoạt
cong tac quan ly chat thai ran sinh hoat
Bến Tre có 08 bãi xử lý chất thải rắn đang hoạt động.

Chính sách quản lý chất thải

Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành các quyết định, kế hoạch để cụ thể hóa việc tổ chức triển khai thực hiện công tác quản lý chất thải rắn như: Quyết định số 1781/QĐ-UBND ngày 09 tháng 8 năm 2017 về đơn giá thu gom vận chuyển xử lý chất thải rắn đô thị; Quyết định số 66/2016/QĐ-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc quy định giá dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác sinh hoạt, sử dụng đò, phà trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Quyết định số 02/2017/QĐ-UBND ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về ban hành quy định quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Quyết định số 1712/QĐ-UBND ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về phê duyệt chương trình phát triển đô thị tỉnh Bến Tre đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và các văn bản có liên quan khác.

Tổ chức bộ máy quản lý

Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh thực hiện theo quy định tại Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về Quản lý chất thải và phế liệu. Để thống nhất quản lý, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tham mưu trình Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành các chương trình, kế hoạch, nghị quyết có lồng ghép nội dung quản lý về rác thải sinh hoạt. Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 02/2017/QĐ-UBND ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về ban hành quy định quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Quyết định số 02/2017/QĐ-UBND là căn cứ để để các Sở, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã phân công nhiệm vụ, xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện các chỉ tiêu mà Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh đặt ra. Theo đó: Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thẩm định hồ sơ môi trường của các cơ sở xử lý chất thải rắn; chủ trì, phối hợp Sở Xây dựng tổ chức điều tra, đánh giá mức độ ô nhiễm tại các cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt và đề xuất cơ chế, chính sách; báo cáo tình hình thực hiện hoạt động quản lý liên quan đến chất thải rắn sinh hoạt thuộc lĩnh vực được phân công; chủ trì, phối hợp Sở Tài chính, Sở Xây dựng xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường tại các khu xử lý chất thải rắn; chủ trì, hướng dẫn các huyện/thành phố thực hiện vệ sinh môi trường về quản lý chất thải rắn sinh hoạt; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định về quản lý chất thải rắn sinh hoạt. Sở Xây dựng có trách nhiệm chủ trì, phối hợp tổ chức lập, thẩm định, công bố đồ án quy hoạch chuyên ngành về quản lý chất thải rắn; phối hợp Sở Tài chính lập kế hoạch chi ngân sách hằng năm cho công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt; chỉ đạo thanh tra xây dựng tổ chức thanh tra, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất và xử lý vi phạm hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt; hướng dẫn xây dựng, áp dụng định mức kinh tế, kỹ thuật về thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt.

Tổ chức điều hành, quản lý chất thải rắn sinh hoạt gồm:

Cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân tỉnh; Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Xây dựng; Các sở, ban, ngành khác: Sở Công thương có Phòng Kỹ thuật an toàn môi trường; các Sở Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đều có bộ phận chuyên môn thực hiện chức năng bảo vệ môi trường thuộc lĩnh vực ngành. Ban Quản lý các khu công nghiệp có Phòng Quản lý môi thực hiện công tác quản lý môi trường trong các khu công nghiệp của tỉnh; công an tỉnh có phòng cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường.

- Cấp huyện: Ủy ban nhân dân huyện/thành phố; + Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện/thành phố; + Phòng Kinh tế hạ tầng huyện/thành phố; - Cấp xã: Ủy ban nhân dân xã/phường/thị trấn. Việc phân bố ngân sách dành phần lớn cho công tác thu gom, vận chuyển nên chi phí đầu tư cho xử lý, tiêu hủy còn rất thấp. Trong thời gian qua, thực hiện theo Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tỉnh cũng đã bố trí một phần nguồn ngân sách cho sự nghiệp bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, nguồn kinh phí phân bổ hàng năm còn thấp, chưa có sự đầu tư lớn để thực hiện các công trình, dự án nhằm khắc phục ô nhiễm, xử lý chất thải rắn sinh hoạt mà chủ yếu là cải tạo, nâng cấp một số bãi rác, trang bị dụng cụ thu gom rác.

Việc thu phí vệ sinh (rác sinh hoạt) thực hiện theo Nghị quyết số 06/2016/NQHĐND ngày 03 tháng 8 năm 2016 của Hội đồng ngân dân tỉnh Bến Tre và Quyết định số 66/2016/QĐ-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre. Tuy nhiên nguồn thu chỉ để trang trải cho chí phí thu gom, vận chuyển, việc chi trả cho công tác xử lý phải do tỉnh hỗ trợ hằng năm. Xã hội hóa nguồn lực tài chính: Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã triển khai xây dựng được 01 khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt tập trung công suất 200 tấn/ngày (Nhà máy xử lý rác Bến Tre) bằng nguồn ngoài ngân sách. Khi nhà máy hoàn thành đi vào hoạt động tháng 12/2019 sẽ góp phần giải quyết khó khăn, bức xúc ở các địa phương.

Hạ tầng kỹ thuật, máy móc, trang thiết bị

Bến Tre có 08 bãi xử lý chất thải rắn đang hoạt động chủ yếu phục vụ xử lý cho các khu vực đô thị, tuy nhiên hiện nay mới chỉ có 03 bãi rác được trang bị hệ thống thu gom nước rỉ rác, đó là bãi rác huyện Mỏ Cày Nam và bãi rác huyện Giồng Trôm và bãi rác huyện Ba Tri; các bãi rác còn lại không có lớp lót đáy, không có hệ thống thu gom nước rỉ rác. Có 05 huyện/thành phố có phương tiện chuyên dụng thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt đến nơi xử lý (thành phố Bến Tre, Châu Thành và Giồng Trôm, Mỏ Cày Nam, Ba Tri). Các huyện còn lại phương tiện thu gom, vận chuyển chủ yếu là xe tải hoặc xe bán tải chưa đảm bảo vệ sinh môi trường trong quá trình thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý. Trên địa bàn thành phố Bến Tre có 07 trạm trung chuyển rác thải sinh hoạt hợp vệ sinh. Theo thống kê sơ bộ trên địa bàn tỉnh có 117/164 xã có tổ, đội thu gom rác chủ yếu bằng các phương tiện tự chế để thu gom rác của các cơ quan, chợ và hộ dân nằm ở khu trung tâm xã về bãi rác huyện hoặc xã để xử lý. Việc thu gom rác thải sinh hoạt từ hộ dân chuyển đến bãi rác thực hiện bằng thủ công với trang thiết bị hỗ trợ cũ kỹ thiếu thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu đặc biệt đối với tuyến huyện và xã. Việc đầu tư các dự án về xử lý chất thải áp dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường để tiến đến mục tiêu là giảm chôn lấp và đốt rác được tỉnh rất quan tâm mời gọi đầu tư, tuy nhiên phần các dự án đầu tư hiện nay cũng chỉ dùng phương pháp chôn lấp hoặc đốt là chủ yếu.

Tuyên truyền, phổ biến giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng, người dân và doanh nghiệp

Lồng ghép tuyên truyền, phổ biến giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng, người dân và doanh nghiệp trong thu gom, xử lý chất thải rắn qua các sự kiện lớn về môi trường như: Ngày Môi trường thế giới, Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn, hưởng ứng “Giờ Trái đất”; tổ chức nhiều lớp tập huấn về bảo vệ môi trường cho cán bộ các cấp, ngành, các xã, người dân và doanh nghiệp. Bên cạnh đó, thực hiện chuyên mục tài nguyên và môi trường trên Đài phát thanh truyền hình Bến Tre, phát hành bản tin môi trường hằng năm, trang tin tài nguyên và môi trường trên website Sở Tài nguyên và Môi trường. Các đoàn thể như thanh niên, nông dân tuyên truyền thông qua các mô hình xử lý rác hộ gia đình, lồng ghép trong chương trình xây dựng nông thôn mới ở các xã, Ủy ban nhân dân xã thực hiện vệ sinh đường làng, ngõ sớm định kỳ hằng tháng… Qua công tác truyền thông đã nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường của các cấp, ngành, đoàn thể, xem công tác quản lý rác thải sinh hoạt là nhiệm vụ quan trọng và đã có những đóng góp tích cực trong công tác bảo vệ môi trường; người dân nhận thức được trách nhiệm của mình về bảo vệ môi trường, nhưng vẫn hạn chế lớn là người dân vẫn né tránh thực hiện bảo vệ môi trường qua các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày.

Thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về quản lý chất thải

Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra công tác quản lý chất thải trên địa bàn tỉnh. Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện kiểm tra công tác bảo vệ môi trường các bãi chôn lấp cấp huyện. Qua kiểm tra, hầu hết các bãi chôn lấp rác hình thành từ trước đây, đều quá tải và không đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường, đã nhắc nhở yêu cầu đơn vị vận hành tăng cường phun xịt chế phẩm để hạn chế mùi, ruồi. Ngày 27 tháng 5 năm 2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành quyết định số 1139/QĐ-UBND về xử phạt vi phạm hành chính đối với một Công ty xử lý rác và nhắc nhở nhiều đơn vị.

Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

- Về nhân lực: số lượng cán bộ quản lý nhà nước về môi trường nói chung và đối với lĩnh vực chất thải rắn sinh hoạt còn mỏng (cấp tỉnh chưa đến 01 biên chế chuyên trách quản lý về chất thải thải rắn, cán bộ kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ), trong khi đó lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt ngày một tăng theo chiều hướng phát triển kinh tế xã hội, gây sức ép cho công tác bảo vệ môi trường. Nguồn lực nhân sự của các đơn vị thực hiện dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế; lao động trực tiếp vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải chưa được đảm bảo an toàn sức khỏe, lương chưa tương xứng với công việc.

- Về nguồn lực tài chính đầu tư: Tỉnh dành quỹ đất cho đầu tư xử lý rác là rất ít (tổng diện tích trên địa bàn tỉnh là 13,14 ha), trong khi theo quy hoạch xử lý chất thải rắn phải dành diện tích đất từ 35 - 60ha để đầu tư 4 khu xử lý chất thải tập trung. Công tác đầu tư chưa đáp ứng được bảo vệ môi trường trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt (năm 2018 ngân sách sự nghiệp môi trường chi trả hỗ trợ khoảng 66 tỷ đồng/ năm cho các đơn vị thu gom, vận chuyển và xử lý rác trên tỉnh); trường hợp nếu xử lý rác thải hoàn toàn theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường không phải chôn lấp lộ thiên thì chi phí đầu tư xử lý rác sẽ tăng cao gấp nhiều lần. Hiện tại thu giá xử lý rác thải trên tỉnh chỉ mới đáp ứng một phân cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác.

- Công tác quản lý phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý: rác thải sinh hoạt chưa được phân loại tại nguồn; thiết bị thu gom, phương tiện vận chuyển rác không đảm bảo kỹ thuật gây mất vệ sinh; hầu hết các bãi chôn lấp rác đều quá tải, gây ô nhiễm; không còn quỹ đất để tiếp tục quy hoạch chôn lấp rác với lượng rác phát sinh ngày một tăng; kêu gọi đầu tư xã hội hóa xử lý rác thải chưa hiệu quả.  Trước thực trạng các bãi rác ô nhiễm nghiêm trọng, đây thuộc lĩnh vực công ích nên từ ngân sách nhà nước (Trung ương 50%) đầu tư giải quyết ô nhiễm 04 bãi rác tại các huyện Bình Đại, Thạnh Phú, Ba Tri và đóng cửa bãi rác Phú Hưng. Kết quả đã khắc phục được ô nhiễm, đặc biệt là đóng của bãi rác Phú Hưng, tuy nhiên bãi rác các huyện sau khi khắc phục ô nhiễm lại tiếp tục tiếp nhận rác hàng ngày và xử lý không đảm bảo dẫn đến môi trường bị ô nhiễm trở lại. Một số ngành, cấp chưa thực hiện hết nhiệm vụ, chức năng quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt; qua một thời gian dài công tác đầu tư nguồn lực xử lý rác thải chưa được xem trọng; cấp tỉnh, huyện chưa tăng cường đẩy mạnh được công tác quản lý rác thải; cấp xã thiếu kiểm tra, giáo dục để người dân chấp hành pháp luật về quản lý rác thải nên vẫn còn tình trạng bãi rác tự phát, người dân vứt rác không đúng nơi quy định.

- Về cơ chế, chính sách: một số cơ chế, chính sách đã được ban hành cần phải cập nhật điều chỉnh để phù hợp với điều kiện thực tế như quy định về giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác; định mức giá cho nhà đầu tư xử lý rác; chưa quy định cụ thể về trách nhiệm đầu tư, bố trí kinh phí cho xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương.

Thu Vân
Xem phiên bản mobile