Lý luận về thị trường Dịch vụ môi trường
1. Khái niệm Dịch vụ môi trường
Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật [Khoản 2, Điều 42, 1].
Cho đến nay trên thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất về DVMT, mà chủ yếu tập trung vào danh mục phân loại được hình thành từ thực tiễn hoạt động kinh doanh cũng như BVMT của mỗi quốc gia. Phần lớn các quốc gia khi tham gia đàm phán không bắt buộc phải tuân theo một danh mục về DVMT nào mà có thể tự do sử dụng hoặc xây dựng cho mình một danh mục riêng nhằm phục vụ mục đích đàm phán và cam kết thương mại, tùy thuộc vào lợi ích của mình trong đàm phán.
Theo cách phân loại của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các DVMT trong GATS bao gồm 4 phân ngành (trích dẫn trong Võ Thị Kim Tuyến, 2018, 2) gồm:
1) Các dịch vụ về nước thải (CPC 9401): là các dịch vụ xử lý nước thải chủ yếu nhằm đẩy nhanh vòng tuần hoàn tự nhiên của nước bị ô nhiễm đến một mức độ chấp nhận được để có thể đưa trở lại môi trường. Dịch vụ này không bao gồm việc thu gom, làm sạch và phân phối nước, không bao gồm việc xây dựng, sửa chữa và điều chỉnh các loại cống thoát...;
2) Các dịch vụ về rác thải (CPC 9402): hay còn gọi là dịch vụ CTR, bao gồm các dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý các CTR từ các hộ gia đình, các cơ quan, các cơ sở kinh doanh hay các nhà máy sản xuất; các dịch vụ làm giảm chất thải. Dịch vụ này không bao gồm việc buôn bán các loại chất thải và phế liệu hoặc các hoạt động nghiên cứu phát triển có liên quan;
3) Dịch vụ vệ sinh và các dịch vụ tương tự (CPC 9403), bao gồm các dịch vụ quét dọn ngoài trời, làm sạch băng và tuyết, không bao gồm việc làm sạch các toà nhà hoặc kiểm soát sâu bệnh trong nông nghiệp;
4) Các DVMT khác (CPC 9404), bao gồm dịch vụ làm sạch không khí bị ô nhiễm, dịch vụ hạn chế tiếng ồn, dịch vụ bảo vệ thiên nhiên và cảnh quan môi trường.
Tuy nhiên, WTO cũng chưa đưa ra được định nghĩa chính xác về từng ngành dịch vụ cho nên nhiều cam kết trong khuôn khổ WTO được thực hiện dựa trên sự phân loại và định nghĩa của Hệ thống phân loại sản phẩm trung tâm của Liên Hợp Quốc (CPC). Mỗi ngành dịch vụ/phân ngành dịch vụ trong WTO tương ứng với một mã CPC nhất định, mỗi mã CPC về một ngành dịch vụ / phân ngành dịch vụ lại được chia thành các mã CPC chi tiết hơn, với định nghĩa khá đầy đủ về dịch vụ. VD: dịch vụ du lịch được chia thành các phân ngành như khách sạn và nhà hàng, công ty du lịch và điều hành du lịch... Theo CPC, phân loại ngành dịch vụ trong WTO thì có 11 loại hình dịch vụ khác nhau được CPC gọi là các ngành dịch vụ, các ngành dịch vụ này được phân chia thành 160 phân ngành dịch vụ hoặc các hoạt động dịch vụ riêng lẻ; đối với các dịch vụ khác chưa được thống kê, CPC chưa đề cập đến.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm về DVMT như sau: DVMT là những dịch vụ được cung cấp nhằm quản lý, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu hoặc khắc phục những thiệt hại về môi trường nước, không khí, đất, cũng như giải quyết những vấn đề liên quan đến chất thải, tiếng ồn và hệ sinh thái [3].
Cộng đồng Châu Âu đề xuất mở rộng phạm vi DVMT, bao gồm toàn bộ vòng đời sử dụng nước và bảo vệ bảo tồn cảnh quan, hệ sinh thái và đa dạng sinh học (trích dẫn trong Võ Thị Kim Tuyến, 2018, 126). Cách định nghĩa này hiện nhận được sự ủng hộ của Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Canada và Nhật Bản.
Diễn đàn Thương mại và Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCTAD) mô tả DVMT bao hàm 4 nhóm chính: Dịch vụ hạ tầng môi trường (cốt lõi), gồm quản lý nước và quản lý chất thải; Dịch vụ như thiết kế, xây dựng, lắp đặt, vận hành; Dịch vụ phục hồi gồm làm sạch địa điểm, phản ứng khẩn cấp đối với các sự cố, phục hồi, đánh giá; và Dịch vụ hỗ trợ môi trường gồm phân tích, giám sát, luật pháp, tham vấn, kiểm toán, nghiên cứu và phát triển [4].
Tại Việt Nam, trong luật BVMT 2014, khái niệm DVMT chưa được quy định cụ thể mà bao quát với nội dung phát phát triển DVMT trong 6 lĩnh vực như sau: 1) Thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải; 2) Quan trắc, phân tích môi trường, đánh giá tác động môi trường; 3) Phát triển, chuyển giao công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường, công nghệ môi trường; 4) Tư vấn, đào tạo, cung cấp thông tin về môi trường; 5) Giám định về môi trường đối với hàng hóa, máy móc, thiết bị, công nghệ; và 6) Giám định thiệt hại về môi trường; giám định sức khỏe môi trường [Điều 150; 5].
Luật BVMT 2020 quy định DVMT: “Là ngành kinh tế cung cấp dịch vụ đo lường, kiểm soát, hạn chế, phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; xử lý chất thải, các chất ô nhiễm khác; bảo tồn đa dạng sinh học và các dịch vụ khác có liên quan” [Điều 144; 5].
Mặc dù DVMT được quy định thành một ngành kinh tế và được quy định tại nội dung phát triển DVMT trong luật BVMT 2020 và có những nét tương đồng với khái niệm DVMT do OECD quy định như: 1) Kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm tới môi trường; 2) Giải quyết, khắc phục các tác động từ chất thải đối với môi trường, tuy nhiên, khái niệm DVMT trong luật BVMT 2020 còn có một số điểm hạn chế, như sau:
1) DVMT là ngành kinh tế nhưng chưa đưa vào trong hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, vì vậy DVMT sẽ chưa có đồng bộ trong hệ thống ngành sản phẩm của Việt Nam; không có chỉ tiêu thống kê về DVMT trong hệ thống thống kê quốc gia; từ đó, sẽ thiếu các số liệu về doanh nghiệp, giá trị sản xuất của ngành DVMT và các chỉ tiêu thống kê khác có liên quan. Nội dung này làm thiếu thông tin thị trường về DVMT, sẽ cản trở nhiều đến việc phát triển thị trường DVMT.
2) Bên cạnh quy định về một số lĩnh vực DVMT cụ thể được Nhà nước khuyến khích cung cấp, khái niệm DVMT còn thể hiện phạm vi quá rộng khi để cụm từ “các dịch vụ khác có liên quan”. Một số hoạt động không phải là DVMT nhưng cũng được đưa vào khái niệm như: sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, đây là xu thế và nghĩa vụ bắt buộc với các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư; bảo tồn đa dạng sinh học là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền [Mục 1, Điều 3, 6].
2. Khái niệm thị trường Dịch vụ môi trường
Từ khái niệm về thị trường và DVMT, có thể suy ra rằng “Thị trường DVMT là hệ thống cho phép đơn vị cung ứng DVMT và nhu cầu sử dụng DVMT tương tác với nhau để xác định giá và số lượng DVMT cần sử dụng nhằm thực hiện mục đích BVMT và thoả mãn các lợi ích kinh tế, hướng tới sự phát triển bền vững”.
* Phân loại thị trường Dịch vụ môi trường
Ở Việt Nam, thị trường DVMT được phân loại như sau [Mục a, Khoản 2, Điều 1; 49]: 1) Thị trường dịch vụ tư vấn, đào tạo, cung cấp thông tin về môi trường; 2) Thị trường dịch vụ quan trắc, phân tích môi trường; 3) Thị trường dịch vụ giám định về môi trường đối với máy móc, thiết bị, công nghệ, giám định thiệt hại về môi trường; 4) Thị trường dịch vụ thiết kế, chế tạo, xây dựng hệ thống xử lý chất thải; 5) Thị trường dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải; 6) Thị trường dịch vụ khắc phục và cải tạo môi trường; 7) Thị trường dịch vụ phát triển, chuyển giao công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường, công nghệ môi trường; 8) Thị trường dịch vụ kiểm toán môi trường.
Như vậy, thị trường DVMT được phân loại thành 08 thị trường cụ thể trên cơ sở sắp xếp, phân loại DVMT được quy định tại Điều 150 Luật BVMT 2014, thêm mới dịch vụ kiểm toán môi trường và dịch vụ thiết kế, chế tạo, xây dựng hệ thống xử lý chất thải.
* Vai trò của thị trường Dịch vụ môi trường
Vai trò của thị trường DVMT được thể hiện qua một số nội dung như sau:
1) Tạo lập các lợi ích môi trường được thể hiện như: Phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường: Giảm thiểu lượng chất thải phát sinh; và Xử lý, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường.
2) Tạo lập các lợi ích xã hội được thể hiện như: Tạo thêm việc làm cho người lao động; Giảm các chi phí liên quan tới chăm sóc sức khỏe con người khi tạo lập môi trường sống trong lành; và Giảm tác động tới biến đổi khí hậu thông qua việc hạn chế phát thải khí thải nhà kính vào môi trường.
3) Tạo lập các lợi ích kinh tế thể hiện qua việc xem xét chất thải là nguồn tài nguyên và là nguồn nguyên liệu đầu vào phục vụ cho quá trình tái chế, xử lý chất thải hình thành các hàng hoá, dịch vụ sau quá trình xử lý chất thải.
3. Phát triển thị trường Dịch vụ môi trường
Phát triển được hiểu là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật. Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn [7].
Trên cơ sở lý luận về thị trường, thị trường DVMT và phát triển DVMT ở Việt Nam đã được Nhà nước định hướng cụ thể, khái niệm về phát triển thị trường DVMT như sau: “Phát triển thị trường DVMT là quá trình tác động vào các yếu tố hình thành thị trường DVMT để thị trường DVMT hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, phù hợp với quan điểm và mục tiêu phát triển DVMT của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập KTQT.”
Có thể khẳng định rằng, thị trường dịch vụ môi trường giữ vai trò trung tâm trong việc kết nối mục tiêu kinh tế với bảo vệ môi trường. Không chỉ góp phần bảo vệ tài nguyên và cải thiện chất lượng môi trường, thị trường này còn thúc đẩy tăng trưởng xanh, nâng cao hiệu quả quản lý và hướng nền kinh tế phát triển theo con đường bền vững. Việc xây dựng và phát triển thị trường dịch vụ môi trường là yêu cầu tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia trong thời đại hiện nay.
Tài liệu tham khảo:
- Quốc Hội (2012), Luật Giá, ban hành ngày 20 tháng 6 năm 2012
- Võ Thị Kim Tuyến (2018), Pháp luật phát triển DVMT ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.
- OECD/Eurostat (1999), Environmental Goods and Services Industry Manual for the Collection and Analysis of Data, OECD, Paris.
- UNCTAD, 2010, Trade and Environment Review 2009/2010 (E.09.II.D.21), Geneva, UNCTAD.
- Quốc Hội (2014), Luật BVMT, ban hành ngày 23 tháng 6 năm 2014.
- Quốc Hội (2008), Luật Đa dạng sinh học, ban hành ngày 13/11/2008
- Nguyễn Trung Thắng (2020), Tổng quan về quản lý chất thải rắn trên thế giới và một số giải pháp cho Việt Nam, truy cập ngày 10 tháng 01 năm 2021, từ [https://congnghiepmoitruong.vn/tong-quan-ve-quan-ly-chat-thai-ran-tren-the-gioi-va-mot-so-giai-phap-cho-viet-nam-5444.html].
Tin mới
Nghiên cứu thiết kế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho thị trường tín chỉ đa dạng sinh học tại Việt Nam
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Bệnh viện Hữu Nghị nhân kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam
Tin khác
TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.