Tuyên Quang: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I (nhiệm kỳ 2025-2030), định hướng lớn về sử dụng hiệu quả tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường
Năm 2026, tỉnh Tuyên Quang sẽ tiếp tục đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện và đưa vào vận hành các dự án nhà máy xử lý rác thải theo quy hoạch; đồng thời thực hiện các thủ tục đóng cửa, cải tạo, phục hồi môi trường đối với các bãi rác tạm, bãi rác không nằm trong quy hoạch bên cạnh việc đồng bộ, quyết liệt các giải pháp bảo vệ môi trường đã và đang thực hiện có hiệu quả hiện nay.
Nhiều kết quả đáng ghi nhận trong công tác bảo vệ môi trường
Thực tiễn giai đoạn 2020 - 2025 cho thấy, Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu đạt nhiều kết quả tích cực. Nhận thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về vai trò, tầm quan trọng của lĩnh vực này ngày càng được nâng cao; bộ máy quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường từ tỉnh đến cơ sở được củng cố, kiện toàn, phân công, phân cấp rõ ràng, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn tỉnh (sau sáp nhập) khoảng 839,8 tấn/ngày, trong đó: khu vực đô thị khoảng 337,8 tấn/ngày, khu vực nông thôn khoảng 502 tấn/ngày. Tổng khối lượng được thu gom khoảng 526,1 tấn/ngày; Tỷ lệ thu gom, xử lý trung bình tại khu vực đô thị đạt khoảng 95%, khu vực nông thôn đạt khoảng 40%.
Hiện nay, hình thức xử lý chất thải rắn sinh hoạt tập trung trên địa bàn tỉnh chủ yếu là chôn lấp hợp vệ sinh, một phần được xử lý bằng phương pháp đốt. Tuy nhiên, một số bãi chôn lấp quy mô nhỏ, công nghệ xử lý còn hạn chế, chưa được đầu tư đồng bộ hệ thống thu gom, xử lý nước rỉ rác và khí thải, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn bước đầu được triển khai nhưng chưa đồng bộ, hiệu quả chưa cao, đặc biệt tại khu vực nông thôn.
Năm 2025, khối lượng chất thải rắn công nghiệp thông thường được thu gom để tái sử dụng, tái chế khoảng 218.227 tấn, chủ yếu từ các cơ sở sản xuất gang thép, giấy, may mặc. Đất đá thải từ khai thác, chế biến khoáng sản được quản lý tại bãi thải mỏ hoặc tận dụng san lấp nội mỏ; bùn thải không nguy hại được lưu giữ tại hồ chứa quặng đuôi theo hồ sơ môi trường được phê duyệt.
Trên địa bàn tỉnh chưa có cơ sở xử lý chất thải nguy hại. Các chủ nguồn thải thực hiện thu gom, phân loại, lưu giữ tại cơ sở và ký hợp đồng chuyển giao cho đơn vị có chức năng xử lý theo quy định. Tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh khoảng 9.773 tấn/năm, chủ yếu từ các cơ sở sản xuất công nghiệp; 100% được thu gom, chuyển giao xử lý đúng quy định. Chất thải y tế nguy hại phát sinh từ bệnh viện, trung tâm y tế được thu gom, xử lý theo mô hình cụm hoặc chuyển giao cho đơn vị có chức năng; 100% được xử lý theo quy định. Nước thải y tế được xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả thải ra môi trường...
![]() |
| Tỉnh Tuyên Quang sẽ tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ triển khai Dự án nhà máy xử lý rác thải tại xã Nhữ Khê. |
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, công tác kiểm soát môi trường các dự án đầu tư được thực hiện ngay từ khâu đề xuất; các nguồn thải lớn, cơ sở có nguy cơ ô nhiễm được giám sát thường xuyên. Công tác quan trắc chất lượng môi trường được duy trì, thông tin môi trường được công khai theo quy định.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh không còn hồ, ao, kênh, mương ô nhiễm nặng cần cải tạo; chất lượng các thành phần môi trường cơ bản được duy trì ổn định. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về môi trường được tăng cường, với 9 cuộc thanh tra, 52 cuộc kiểm tra; xử phạt 59 đơn vị vi phạm, tổng số tiền trên 8,8 tỷ đồng, góp phần nâng cao tính răn đe và hiệu lực quản lý nhà nước.
Theo đánh giá của UBND tỉnh, năm 2025 mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do thực hiện mô hình chính quyền 02 cấp, điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật và nguồn lực tài chính còn hạn chế, công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh đã đạt được một số kết quả quan trọng:
Công tác quản lý môi trường tiếp tục được tăng cường. Toàn tỉnh hiện quản lý 01 Khu kinh tế, 02 khu công nghiệp, 08 cụm công nghiệp, 51 làng nghề, trên 200 cơ sở khai thác khoáng sản và trên 120 dự án trong khu, cụm công nghiệp, trong đó trên 40 cơ sở thuộc nhóm có nguy cơ gây ô nhiễm cao. Các nguồn thải lớn cơ bản được kiểm soát, không phát sinh điểm nóng ô nhiễm nghiêm trọng.
Công tác thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và cấp giấy phép môi trường được thực hiện đúng quy định; chất lượng thẩm định từng bước được nâng cao, góp phần kiểm soát từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, phòng ngừa nguy cơ gây ô nhiễm khi dự án đi vào hoạt động. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường được triển khai thường xuyên, đa dạng hóa hình thức; từng bước nâng cao nhận thức của cộng đồng, doanh nghiệp và người dân về phân loại chất thải tại nguồn, giảm thiểu rác thải nhựa và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Tiếp tục triển khai đồng bộ, quyết liệt nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển xanh - sạch - bền vững
Trong năm 2026, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường, trọng tâm là tuyên truyền, hướng dẫn phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn; nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư trong công tác bảo vệ môi trường. Nâng cao chất lượng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép môi trường; tăng cường kiểm soát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm cao; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các tác động xấu đến môi trường và nâng cao năng lực ứng phó sự cố môi trường.
Tập sẽ tiếp tục nghiên cứu đè xuất, tập trung nguồn lực để đầu tư xây dựng hạ tầng bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh, trọng tâm là hạ tầng thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, hệ thống thu gom, xử lý nước thải đô thị, khu, cụm công nghiệp. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, thúc đẩy chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu về môi trường. Tăng cường quản lý môi trường đối với các dự án đầu tư, chú trọng xem xét vị trí thực hiện dự án, các yếu tố nhạy cảm về môi trường; hướng dẫn, đôn đốc chủ dự án thực hiện đầy đủ, đúng quy định các thủ tục môi trường trong suốt quá trình chuẩn bị, triển khai và vận hành dự án.
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về môi trường, làm cơ sở phục vụ công tác kiểm tra, giám sát, theo dõi diễn biến chất lượng môi trường; đánh giá khả năng tiếp nhận nguồn thải của môi trường phục vụ quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội bền vững của tỉnh.
Tăng cường kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường do chất thải rắn: Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý các loại chất thải phát sinh trên địa bàn tỉnh; tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải y tế, chất thải rắn công nghiệp thông thường, chất thải nguy hại và chất thải phát sinh trong hoạt động nông nghiệp, khu vực nông thôn.
Đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện và đưa vào vận hành các dự án nhà máy xử lý rác thải theo quy hoạch; tiếp tục kêu gọi, thu hút đầu tư các dự án xử lý chất thải ứng dụng công nghệ tiên tiến, phù hợp điều kiện thực tế của địa phương. Tổ chức vận hành hiệu quả các khu xử lý rác tập trung đã được đầu tư; đồng thời thực hiện các thủ tục đóng cửa, cải tạo, phục hồi môi trường đối với các bãi rác tạm, bãi rác không nằm trong quy hoạch
Đẩy mạnh xã hội hóa trong công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn; khuyến khích các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong xử lý, tái chế chất thải; thúc đẩy sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng và phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn. Tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý quy hoạch các khu xử lý chất thải rắn; kiểm soát chặt chẽ việc đầu tư, vận hành các cơ sở xử lý chất thải, bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật về bảo vệ môi trường và phù hợp với quy hoạch được phê duyệt.
Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong sản xuất công nghiệp: Thường xuyên rà soát, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; yêu cầu thực hiện đầy đủ các biện pháp bảo vệ môi trường, cải tạo, nâng cấp, hoàn thiện các công trình xử lý chất thải theo quy định. Yêu cầu các công ty, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh hoàn thành đầy đủ thủ tục môi trường theo quy định trước khi đưa dự án vào vận hành chính thức; bảo đảm các công trình xử lý chất thải được xây dựng, vận hành ổn định và đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.
Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhà máy nằm ngoài khu, cụm công nghiệp có lưu lượng xả nước thải lớn hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm cao, tiếp tục đôn đốc, yêu cầu lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên tục; thực hiện truyền số liệu trực tiếp về Sở Nông nghiệp và Môi trường để theo dõi, giám sát theo quy định.
Tỉnh sẽ chủ động tăng cường kiểm soát ô nhiễm trong lĩnh vực nông nghiệp và làng nghề thông qua việc hướng dẫn, kiểm tra việc thu gom, xử lý chất thải trong hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; khuyến khích áp dụng các mô hình sản xuất nông nghiệp tuần hoàn, tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, xử lý chất thải chăn nuôi bằng công nghệ phù hợp (biogas, đệm lót sinh học, ủ compost…).
Đi cùng với đó, công tác kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học; thu gom, xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng đúng quy định; hạn chế phát sinh ô nhiễm đất, nước và không khí tại khu vực nông thôn được quan tâm, chú trọng và có kế hoạch cụ thể. Rà soát, đánh giá hiện trạng môi trường tại các làng nghề, cơ sở sản xuất nhỏ lẻ; yêu cầu xây dựng, cải tạo, nâng cấp công trình xử lý chất thải bảo đảm đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; từng bước di dời hoặc chuyển đổi ngành nghề đối với các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, không phù hợp quy hoạch.
![]() |
| Giải quyết bài toán môi trường đi đôi với thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải từ hoạt động ủ rơm thành phân bón |
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I đặt ra, việc giải quyết bài toán môi trường đi đôi với thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải; xã hội hóa đầu tư xử lý, tái chế chất thải; phát triển nông nghiệp hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi các cơ quan chức năng, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh phải quyết liệt, chung tay và nhìn nhận thông suốt các nội dung để triển khai thực hiện hiện hiệu quả, đúng tiến độ. Cùng với đó việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng thu gom, xử lý chất thải; tăng cường giám sát nguồn thải lớn bằng hệ thống quan trắc tự động; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai; bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn; xây dựng sinh kế thích ứng cho người dân vùng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu cũng phải được quan tâm đúng mực và triển khai trên diện rộng.
Có như vậy, việc thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển xanh - sạch - bền vững, tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I đặt ra sẽ không còn là mong muốn mà sẽ trực tiếp tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh và hài hòa trong giai đoạn mới.
Tin mới
Tuyên Quang: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I (nhiệm kỳ 2025-2030), định hướng lớn về sử dụng hiệu quả tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường
Tổ chức lễ phát động và Giải chạy hưởng ứng “Toàn dân sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả và hưởng ứng Chiến dịch Giờ Trái đất năm 2026"
Chi hàng chục tỷ đổng tổ chức kỳ thi học bổng, sức hút mùa tuyển sinh từ các trường tư thục chất lượng cao
TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.

