Một số lý luận về thị trường
1. Khái niệm thị trường
Theo Samuelson, thị trường tồn tại với hầu hết mọi thứ, dưới một số hình thức khác nhau và mang đặc điểm là đưa người mua và người bán đến với nhau để xác định giá cả và sản lượng; từ đó, Samuelson định nghĩa: “Thị trường là một cơ chế trong đó người mua và người bán tương tác với nhau để xác định giá cả và sản lượng của hàng hóa hay dịch vụ” [1].
Trong cuốn Kinh tế học, Giáo sư kinh tế David Begg cho rằng: “Thị trường là sự dàn xếp giữa người bán và người mua trong trao đổi hàng hóa và dịch vụ” [2].
Trong Giáo trình Kinh tế vĩ mô, PGS. TS. Phí Mạnh Hồng cho rằng “Thị trường là tập hợp các điều kiện và thỏa thuận mà thông qua đó người mua và người bán tiến hành sự trao đổi hàng hóa với nhau” [3].
Trong Đại từ điển kinh tế thị trường, “Thị trường là nơi trao đổi hàng hoá sản xuất và hình thành trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá cùng với mọi quan hệ kinh tế giữa người với người liên kết với nhau thông qua trao đổi hàng hoá” [4].
Có nhiều quan niệm, khái niệm khác nhau về thị trường đang được sử dụng, nhưng hầu như các nội dung cơ bản của các khái niệm là thống nhất, với các quan niệm về thị trường theo nghĩa rộng và thị trường theo nghĩa hẹp: 1) Thị trường theo nghĩa rộng là chỉ các hiện tượng kinh tế, các quan hệ kinh tế được phản ảnh thông qua trao đổi và lưu thông hàng hoá, cùng với mối quan hệ giữa người với người trong các quan hệ kinh tế, tạo ra sự liên kết với nhau, thúc đẩy nhau phát triển; và 2) Thị trường theo nghĩa hẹp là chỉ các khu vực, không gian trao đổi hàng hoá. Sự phát triển của thị trường luôn gắn liền với phát triển sản xuất hàng hoá.
2. Các yếu tố hình thành thị trường
Chủ thể thị trường, có hai nhóm người ra quyết định chính là người mua hàng hay người tiêu dùng và người bán hàng hay người sản xuất, quyết định của người mua hàng là quyết định từ phía cầu về hàng hóa, quyết định của người bán hàng là quyết định từ phía cung cấp hàng hóa. Nói đến thị trường là nói đến sự tương tác Cung, Cầu về hàng hóa, kết quả của sự tương tác này xác định giá cả cũng như lượng hàng hóa được giao dịch.
Hàng hoá trao đổi trên thị trường là sản phẩm hữu hình hoặc vô hình, sản phẩm tồn tại trên thực tế hoặc sản phẩm sẽ có trong tương lai; sự trao đổi hàng hoá trên thị trường phụ thuộc vào quan hệ Cung - Cầu. Căn cứ đặc tính của đối tượng trao đổi trên thị trường, có thể chia ra nhiều loại thị trường như: thị trường hàng hoá và dịch vụ (bao gồm hàng hoá tiêu dùng, tư liệu sản xuất, dịch vụ cho đời sống, dịch vụ cho sản xuất); thị trường lao động; thị trường tài chính; thị trường bất động sản; thị trường khoa học và công nghệ… quy mô phát triển của hàng hoá trao đổi trên thị trường phản ánh quy mô, tốc độ phát triển kinh tế của một quốc gia.
Giá cả thị trường được xác định dựa trên nhu cầu Cung - Cầu trên thị trường; trong trường hợp Cung lớn hơn Cầu, dẫn đến tình trạng hàng hóa, dịch vụ mất giá, giá cả trên thị trường sẽ có xu hướng giảm; nếu Cung nhỏ hơn Cầu, tức là nguồn cung cấp không đáp ứng được hết nhu Cầu, khi đó giá thành của hàng hóa, dịch vụ sẽ tăng cao.
Thông tin thị trường được thu thập, phân tích về các yếu tố hình thành và các nhân tố tác động đến thị trường, được sử dụng phục vụ mục đích phát triển thị trường, tăng tính minh bạch, cạnh tranh giữa các chủ thể thị trường.
Trung gian thị trường hay còn gọi là trung gian thương mại, Khoản 11 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định, hoạt động trung gian thương mại được xác định là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định và bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hoá và đại lý thương mại.
Để khắc phục những thất bại của thị trường (do cạnh tranh không hoàn hảo, tình trạng độc quyền, do những tác động từ bên ngoài…), để thị trường hoạt động hiệu quả đòi hỏi có sự can thiệp của Nhà nước. Nhà nước bằng hệ thống chính sách, pháp luật và các công cụ kinh tế điều hành thị trường; thực hiện cung cấp hàng hóa công cộng, những hàng hóa mà ích lợi giới hạn thấp với cá nhân các chủ thể kinh tế, nhưng lại có ích lợi giới hạn lớn với xã hội, đem lại hiệu quả KTXH cao.
3. Cấu trúc thị trường
Cấu trúc thị trường được đặc trưng bởi số lượng người mua hay người bán tham gia trên thị trường và mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa họ, có hai dạng cấu trúc thị trường lớn là thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường cạnh tranh không hoàn hảo:
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là dạng thị trường mà ở đó mỗi người bán hay mỗi doanh nghiệp riêng biệt không có khả năng kiểm soát, chi phối giá cả hàng hóa. Tại thị trường này, doanh nghiệp chỉ là người chấp nhận giá. Mức giá trên thị trường được hình thành như là kết quả tương tác chung của tất cả những người bán và người mua. Mỗi doanh nghiệp cụ thể, bằng hành vi riêng biệt của mình, không có khả năng tác động đến mức giá này; là người chấp nhận giá, doanh nghiệp trên thực tế không có quyền lực thị trường [3].
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là dạng thị trường mà ở đó mỗi người bán hay doanh nghiệp riêng biệt ít nhiều có khả năng kiểm soát hay chi phối giá cả hàng hóa. Một doanh nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo không phải là một kẻ chấp nhận giá, bằng nhiều cách khác nhau (chẳng hạn như thay đổi sản lượng hàng hóa cung ứng trên thị trường), doanh nghiệp có thể thay đổi được mức giá hàng hóa. Nói cách khác, đó là một doanh nghiệp có quyền lực thị trường [3]. Có nhiều dạng thị trường cạnh tranh không hoàn hảo:
1) Thị trường độc quyền, trên một thị trường độc quyền thuần túy, xét từ phía người bán, chỉ có một doanh nghiệp duy nhất cung ứng hàng hóa. Không có đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp này thường có quyền lực thị trường lớn, nó thường có thể định giá hàng hóa cao hơn nhiều so với mức giá có tính chất cạnh tranh tương tự.
2) Thị trường độc quyền nhóm là dạng thị trường mà trên đó chỉ có một nhóm nhỏ doanh nghiệp cùng hoạt động, tuy không phải là một doanh nghiệp duy nhất độc chiếm thị trường, doanh nghiệp độc quyền nhóm thường có quy mô tương đối lớn so với quy mô chung của thị trường, điều này cho phép nó có một quyền lực thị trường hay khả năng chi phối giá đáng kể. Sản phẩm của các doanh nghiệp trên thị trường độc quyền nhóm có thể giống hệt hoặc gần như giống hệt nhau, song cũng có thể khác biệt nhau; tính đồng nhất hay khác biệt của sản phẩm không phải là những tính chất đặc thù của thị trường này. Đặc trưng cơ bản của một ngành độc quyền nhóm là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp; mỗi khi ra quyết định về sản lượng, giá cả hay các quyết định kinh doanh có liên quan khác, mỗi doanh nghiệp đều phải cân nhắc xem quyết định của mình có ảnh hưởng gì đến các quyết định của các đối thủ, khiến cho các đối thủ phản ứng như thế nào; các doanh nghiệp có thể cạnh tranh khốc liệt với nhau để giành giật thị trường, vừa có khả năng thỏa thuận, cấu kết với nhau để cùng khống chế thị trường.
3) Thị trường cạnh tranh có tính chất độc quyền với số lượng doanh nghiệp cùng kinh doanh một loại hàng hóa tương đối lớn, những doanh nghiệp trên thị trường này có nhiều điểm giống các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo, song lại có khả năng chi phối giá cả hàng hóa một cách hạn chế.
4. Sửa chữa, khắc phục các khuyết tật thị trường
Nhà nước điều tiết độc quyền bằng việc kiểm soát giá đối với các doanh nghiệp độc quyền, đây được coi là phương án thay thế mà Nhà nước thường sử dụng để điều tiết độc quyền; quá trình định giá của doanh nghiệp bị Nhà nước kiểm soát chặt chẽ và khống chế theo những quy tắc phê duyệt giá nhất định. Trong trường hợp này, doanh nghiệp độc quyền tư nhân vẫn được chấp nhận mà không phải rời bỏ thị trường.
Nhà nước cung cấp hàng hóa công cộng. Việc Nhà nước phải đứng ra cung cấp hàng hóa công cộng không đồng nghĩa với việc nhà Nước đứng ra sản xuất trực tiếp các hàng hóa này; trong nhiều trường hợp, Nhà nước chỉ là người bỏ tiền ra để mua sắm hàng hóa bằng cách đặt hàng cho khu vực tư nhân, Nhà nước không cần phải trực tiếp sản xuất hàng hóa.
Xử lý ngoại ứng, vì hướng tác động đến hiệu quả của ngoại ứng tiêu cực và tích cực là khác nhau nên cách xử lý của Nhà nước đối với chúng cũng cần phải khác nhau, cụ thể như sau:
1) Đối với ngoại ứng tiêu cực, hướng can thiệp tổng quát của Nhà nước là buộc những người (sản xuất hay tiêu dùng) gây thiệt hại cho người khác phải chịu trách nhiệm và trả tiền bồi thường về những thiệt hại mà mình đã gây ra, ví dụ cụ thể như sau: doanh nghiệp cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) sử dụng các phương tiện, thiết bị thu gom, vận chuyển không đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật làm rơi, vãi CTRSH và nước rỉ rác ra môi trường; Nhà nước chưa yêu cầu doanh nghiệp này ngừng ngay việc cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển CTRSH trên địa bàn được giao mà sẽ ra quyết định xử phạt về hành vi vi phạm và yêu cầu khắc phục các phương tiện, thiết bị thu gom, vận chuyển CTRSH để đáp ứng yêu cầu cung ứng dịch vụ được giao; và Đối với các hộ kinh doanh, CTRSH được thu theo mét khối, để tránh việc gia tăng CTRSH bị tính phí nhiều, hộ kinh doanh sẵn sàng thải bỏ CTRSH ra môi trường mà không giao cho đơn vị cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển CTRSH, để chấm dứt hành vi này, Nhà nước sẽ có quyết định xử phạt hành vi thải bỏ CTRSH ra môi trường. Khi phải tự gánh chịu các chi phí “ngoại ứng”, người sản xuất hay tiêu dùng sẽ phải cân nhắc để có các quyết định hợp lý.
2) Đối với ngoại ứng tích cực, can thiệp của Nhà nước trong trường hợp này là đưa sản lượng thị trường tăng lên theo hướng sản lượng hiệu quả xã hội. Trong trường hợp này, Nhà nước buộc phải đưa ra những khuyến khích cần thiết để mọi người sẵn sàng sản xuất và tiêu dùng ở mức cao hơn; công cụ chủ yếu được Nhà nước sử dụng ở đây là trợ cấp. NCS lấy ví dụ cụ thể như sau, giả sử giá dịch vụ CTRSH ở mức cao khiến các đối tượng phát sinh CTRSH phải tốn nhiều chi phí cho việc xử lý CTRSH, các đối tượng phát sinh CTRSH sẽ tìm cách chống chế để tránh phát sinh nhiều CTRSH như thải bỏ trộm CTRSH ra môi trường, các hoạt động này sẽ có tác động tiêu cực đến xã hội và môi trường, bằng cách thanh tra đột xuất, Nhà nước sẽ ra các quyết định xử phạt; đối với ngoại ứng tích cực, Nhà nước sẽ nghiên cứu và tiến hành bù giá dịch vụ CTRSH ở mức phù hợp với địa phương, khuyến khích các đối tượng phát sinh CTRSH hợp tác, tự giác bàn giao CTRSH với đơn vị cung ứng dịch vụ.
3) Cung cấp thông tin phục vụ thị trường, có hai hướng để Nhà nước khắc phục sự thiếu hụt thông tin trên thị trường: Nhà nước cung cấp thông tin bổ sung cho thị trường; và Nhà nước đưa ra những quy chế về cung cấp thông tin để điều tiết các giao dịch trên thị trường.
Việc hệ thống hóa và làm rõ các lý luận về thị trường góp phần khẳng định vai trò của thị trường như một cơ chế phân bổ nguồn lực quan trọng, đồng thời tạo cơ sở khoa học cho việc vận dụng đúng đắn các quy luật thị trường trong quản lý, điều hành và phát triển kinh tế, bảo đảm tính hiệu quả và bền vững.
Dương Phấn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Paul Samuelson and William D Nordhaus (2009), Economics, McGraw-Hill Education, 19th edition.
2. David Begg (2007), Stanley Fishcher, and Rudiger Dornbusch, Kinh tế học.
3. Phí Mạnh Hồng (2010), Giáo trình kinh tế vĩ mô, Nhà xuất bản Đại Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
4. Nguyễn Hữu Quỳnh (1998), Đại từ điển kinh tế thị trường, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa, Hà Nội.
Tin khác
TRIỂN KHAI CÁC PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI THỰC HIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Triển khai các phương tiện cơ giới thực hiện vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thể hiện ở một số khía cạnh như: 1) Nâng cao hiệu quả và năng suất lao động; 2) Cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường; 3) Bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; 4) Tối ưu hóa chi phí lâu dài; 5) Tăng tính đồng bộ trong hệ thống thu gom – vận chuyển; 6) Góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Từ đó, mang lại giá trị thiết thực về hiệu quả, chất lượng, an toàn và tính bền vững, là xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải hiện đại.